Showing posts with label Danh Nhân Xưa. Show all posts
Showing posts with label Danh Nhân Xưa. Show all posts

Friday, December 26, 2014

Tiên Hiền Đặng Nghiêm (1170-1236)



Đặng Nghiêm (1170-1236) thường gọi là Tiên hiền Đặng Nghiêm, người khai khoa cho xứ Sơn Nam. Ông là người thôn An Đề - huyện Vũ Thư - Thái Bình, sống vào thời đạo Nho bắt đầu được coi trọng. Ông là người thông minh, ham học. Lúc nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Ông học đâu nhớ đấy nên dù còn ít tuổi đã nổi tiếng uyên thâm, không có sách gì ông không đọc và hiểu biết nghĩa lý tường tận.
Nhà Lý mở nhiều khoa thi Nho học để chọn nhân tài cho đất nước buổi đầu xây dựng nhà nước trung ương tập quyền như khoa thi chọn "Người giỏi thi thư" năm Ất Tỵ niên hiệu Trịnh phù thứ 10 đời vua Lý Cao Tông (1185). Ở khoa thi này chính Tiên Hiền Đặng Nghiêm đã thi đậu và được tuyển chọn vào giảng sách hầu vua. Trong sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam", Đặng Nghiêm được xếp hàng thứ 5 sau bốn vị khách là người các xứ Kinh Bắc, Hải Đông nên ngài là người khai khoa cho xứ Sơn Nam nay gồm các tỉnh: Hà Đông cũ, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình. Các xứ Sơn Tây và vùng Thanh Nghệ cho đến lúc này chưa có người nào đậu Đại khoa cả. Chính vì ngài là người khai khoa cho xứ Sơn Nam nên tỉnh Thái Bình mới lấy tên Đặng Nghiêm đặt tên cho một đường phố rất khang trang ở TP Thái Bình để xây dựng Thái Bình thành một tỉnh "Hiếu học".
"Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam" - Nhà xuất bản Văn học viết rằng: "Tiếng tăm ông vang lừng vượt hẳn các sĩ phu đương thời". "Ông làm quan đến Công bộ Thị Lang". "Ông là người hiển đạt đầu tiên trong tỉnh Nam Định".
Thật ra ông là người khai khoa cho cả xứ Sơn Nam bao gồm các tỉnh: Hà Đông cũ, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định. Ngày nay, qua 800 năm, nhà thờ cổ Đặng Nghiêm ở An Đề - Thư Trì - Thái Bình vẫn được con cháu hương khói phụng thờ.
Theo sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam" thì đến Khoa thi năm Nhâm Thìn niên hiệu Kiến Trung 8 đời Trần Thái Tông (1232) cháu Đặng Nghiêm là Đặng Diễn đậu thứ nhất đệ nhị giáp. Đây là trường hợp đầu tiên ở nước ta, trong một gia đình có hai người đậu đại khoa. Đặng Diễn cũng sống ở An Đề - Vũ Thư. Điều này chứng tỏ gia đình Đặng Nghiêm đã trở thành một vọng tộc đi theo con đường Nho học và hiển đạt từ Khoa cử rất sớm.
Theo "Đặng tộc đại tông phả tự" do Đặng Đôn Thực viết năm Lê Hy Tông nguyên niên (1680) thì Đặng Nghiêm là con út của Đặng Phúc Mãn. Đặng Phúc Mãn vốn quê ở Mạc Xá nay đổi là Lương Xá, được giao chỉ huy một vệ đội để xây dựng hành cung Yên Hưng ở Quảng Ninh. Khi việc xây dựng hành cung hoàn thành, vua Lý đã ban ruộng cho Phúc Mãn ăn lộc ở An Đề - Thị Thư do đó Phúc Mãn mới về An Đề và cùng cụ bà hiệu là Trinh Thuận sinh ra Đặng Nghiêm ở An Đề.
Phả cũng cho biết ngài Đặng Ma La, thám hoa khoa Đinh Mùi - niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình 16 đời Trần Thái Tông (1247) và nhà soạn lịch danh tiếng Đặng Lộ cũng là dòng dõi Đặng Nghiêm và như thế thì anh hùng dân tộc Đặng Tất, Đặng Dung và 4 nhà khoa bảng rất nổi tiếng đời Lê Sơ ở Sơn Vi: Đặng Thiếp, Đặng Tông Củ, Đặng Minh Khiêm, Đặng Tán và 2 vị khác là Đặng Thận, Đặng Điềm ở Lập Thạch cũng là con cháu ngài Đặng Nghiêm.
Người xưa đã từng nhận xét: Họ Đặng là "Nam phương vượng tộc" tức họ Đặng là một dòng họ thịnh vượng ở phương Nam. Quả không sai. Ngày nay họ Đặng sống ở nhiều nơi và đông đảo nhất là họ Đặng ở Thái Bình, họ Đặng ở Chương Mỹ, Hà Tây, họ Đặng ở vùng Can Lộc, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Ngày 20-11-2007, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam kết hợp với Ban lịch sử địa phương, Viện sử học, trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám, Ban liên lạc họ Đặng toàn quốc tổ chức hội thảo khoa học về Đặng Nghiêm tại Bái đường Văn miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội.
Cuộc hội thảo khoa học không những sẽ làm sáng tỏ hơn nữa những đóng góp to lớn của Đặng Nghiêm cho dân tộc, cho đất nước mà còn là dịp để động viên con em Thái Bình hăng say học tập, noi gương bậc tiền bối Đặng Nghiêm, luyện tài rèn đức để phục vụ cho đất nước.
Nhân hội thảo Khoa học về Đặng Nghiêm tại Văn Miếu Quốc Tử Giám: Tiên hiền Đặng Nghiêm, người khai khoa cho xứ Sơn Nam
Nguyễn Văn Thành
(Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam)

Monday, December 22, 2014

Đôi nét về Đặng Dung

Đôi dòng tiểu sử:
Đặng Dung là con Đặng Tất, một tướng tài thời Hậu Trần. Năm sinh và năm mất của ông không rõ, chỉ biết ông là người người làng Tả Hạ, xã Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc; nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Giận cha mình bị vua Giản Định giết oan (1408) vì lời gièm pha của gian thần sau trận Bô Cô, ông đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, và được giữ chức Đồng bình chương sự.
Ông cùng Nguyễn Cảnh Dị nhiều lần trực tiếp chiến đấu với quân Minh. Đêm tháng 9 năm Quý Tỵ (1413), Đặng Dung đánh úp doanh trại giặc và xuýt nữa bắt sống tướng Minh Trương Phụ (vì không biết rõ mặt nên Phụ lợi dụng đêm tối dùng thuyền nhẹ trốn thoát được).
Tháng 11 năm 1413, vua tôi nhà Hậu Trần thế cô cuối cùng bị quân Minh bắt giải về Yên Kinh. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không có chép gì về cái chết của ông. Theo Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án thì ông và Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ moi gan ăn.
Ông còn để lại duy nhất một bài thơ, Cảm Hoài, chép trong Toàn Việt Thi Lục. Lý Tử Tấn có lời bình phi hào kiệt chi sĩ bất năng (nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt, ắt không thể làm được bài thơ này).
Cảm Hoài :
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Chú thích:
đồ điếu: điển tích đời Hán, Phàn Khoái làm nghề bán thịt chó, Hàn Tín làm nghề câu cá, cả hai sau này đều là khai quốc công thần, giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang phá Tần diệt Sở.
tẩy binh: điển tích từ hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Tẩy Binh Mã:
An đắc tráng sĩ vãn Ngân Hà
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng
(Ước gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngân Hà
Rửa sạch giáp binh để mãi mãi không dùng đến nữa).
Long Tuyền: tên một loại gươm báu thời xưa .

Bản Dịch Tản Đà

Việc đời man mác, tuổi già thôi !
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai !
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

Bản Dịch Phan Kế Bính

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày

Về Đầu Trang

Bài bình thơ cảm hoài của Tể Tướng Đặng Dung

THẾ SỰ DU DU NẠI LÃO HÀ

Đó là câu thơ rút trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung. Mời bạn yêu thơ đọc bài viết dưới đây giới thiệu bài Cảm Hoài.
                                                                                           BCTHVN
ĐẶNG DUNG (鄧容), CẢM HOÀI (感懷)
Trong hàng ngàn bài Thất ngôn bát cú luật thi của Việt Nam cũng như của Đường thi Trung Quốc mà tôi đã đọc, những bài liên quan đến tâm sự người tráng sĩ trước vận nước không hề có một bài nào có thể so sánh được với bài Cảm hoài của tráng sĩ thi nhân Đặng Dung của chúng ta, kể cả thơ của Tô Đông Pha, thi nhân rất nổi tiếng đời Tống. Có lẽ cả trong dòng Thất ngôn bát cú này, một bài khác có thể để bên viên ngọc quý này là bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, tuy nhiên tâm sự của Thôi Hiệu lại là dòng tâm sự thương nhớ quê hương. Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu thật khó mà so sánh được với Cảm hoài của Đặng Dung cả về nội lực văn chương, cả về nhãn quan lẫn văn phong. Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu đã được đề cập nhiều tại Việt Nam, nay tôi không bàn về Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu nữa vì xem như khách thơ đã biết; nay tôi tập trung bàn về bài Cảm hoài của Đặng Dung mà thôi.

Thơ văn của Đặng Dung chỉ còn lưu lại chỉ mỗi một bài Cảm hoài. Đó là một bài thơ mà tám câu thẩy đều xuất sắc, mỗi câu là một trang sử, lời thơ chứa nhiều kiến văn của một người có sức học rất rộng, tài hoa trong việc chọn điển từ, điển tích, quyết đoán trong việc đánh giá ai xứng đáng được gọi là anh hùng, ai là tên tiểu tốt hay loại bần tiện trong lịch sử Tàu và Việt. Là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ trong cơn quốc nạn. Danh sĩ Lý Tử Tấn người đồng khoa tiến sĩ với Nguyễn Trãi, là phó soái Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú thời vua Lê Thánh Tông, vào giữa thế kỷ XV, khi nhận xét về bài thơ này, Lý danh sĩ phê “phi hào kiệt chí sĩ bất năng“ (nếu không phải là người hào kiệt ,tráng sĩ thì không thể trước tác nổi).

Đọc đến đây làm sao mà khách thơ không thích thú cho được khi hồi tưởng một thời trung học của mình đã từng được học qua, nay còn nhớ đôi câu trong trí: 
Thời lai đồ điếu (4) thành công dị
Vận khứ (5) anh hùng ẩm hận đa
Đó là câu 3 và câu 4 trong nguyên tác đã gây bao nhiêu cảm xúc cho người thời nay, cụ Phan kế Bính năm xưa đã dịch :
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.

Cụ Tản Đà dịch:
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!

Và người bây giờ dịch:
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta!.

Xin các bạn hãy cùng tôi, chúng ta cùng đọc kỹ lại thơ ông để xem lời bình của danh sĩ Lý Tử Tấn đúng đến mức độ nào, và tiện thể cũng để xác định cho chắc một lần cuối rằng, trong thể Thất ngôn bát cú nói về khí phách tráng sĩ không bài nào qua mặt nổi bài Cảm hoài của Đặng Dung tài danh của Việt Nam chúng ta. Để có thể thưởng ngoạn cho tận hết “cái hay “ của bài trên, xin khách thơ cùng laiquangnam đọc lại lịch sử cũng như các huyền thoại thoại dân gian.
I- Bài thơ của Đặng Dung được sáng tác trong bối cảnh nào?
Lấy cớ́ tên đại gian tặc Hồ Quý Ly (gốc Tàu), kẻ đã cướp ngôi nhà Trần, do sự bất cẩn của vua Trần nuôi ong tay áo, không nghe lời của quan tư đồ Trần Nguyên Hãn; quân nhà Minh diệt dễ dàng nhà Hồ, sử ghi tướng Tàu là “Trương Phụ thắng trận đi đến đâu giết hại quân dân và làm những điều tàn bạo gớm ghê là xếp người thành núi, hoặc rút ruột người treo lên cây, hoặc nấu thịt người để lấy dầu. Còn những người An Nam ai phục tùng nhà Minh mà giết được nhiều người bản quốc thì được thưởng cho làm quan. Thật bấy giờ tha hồ cho bọn hung ác đắc chí” sđd (1) trang 204 .Thế sự du du nại lão hà (câu 1) là thế .
Chỉ vì xuất phát lòng căm thù trước sự tàn ác và dã man của bọn giặc Tàu xâm lược mà các hào kiệt như Đặng Tất khởi binh trước đó, tiếp tục sau này là các tướng Đặng Dung, Nguyễn cảnh Dị, con trai của danh tướng Nguyễn cảnh Chân, Trần Quý đi tìm con cháu nhà Trần dựng cờ khởi nghĩa. Họ đã tổ chức lực lượng chống trả kẻ thù, dẫu biết kẻ thù đã mang sang nước ta một lực lượng quân binh chính quy hùng mạnh đông gấp nhiều lần về cả ba phương diện vũ khí, con người, quân lương. Các vị anh hùng đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình. Có lúc họ cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, sđd (1), tưởng chừng như đã thắng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! họ đã bại trận! Trên đường bị đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi họ đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết lòng, hết sức vì dân tộc này. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến đã ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù; dân tộc ta đâu xa lạ gì sự tra tấn đầy thú tính của người Tàu đối với dân bị trị, xin khách thơ cùng đọc đoạn sử này “Năm 1410, Trần quý Khoách khi thấy sức đã yếu, kéo dài cuộc chiến chỉ làm kiệt sức dân, hao binh tổn tướng, nay tạm chấp nhận thua thiệt trước mắt để tính kế lâu dài. Vua bèn cử Nguyễn Biểu làm sứ giả sang dinh của Trương Phụ bàn chuyện hòa giải. Trương Phụ bắt trói sứ giả Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì Nguyễn Biểu phải chết ngộp”. Một quốc gia côn đồ thì có binh tướng côn đồ, có văn minh của xứ nào trên thế gian này lại đi giết sứ giả, khi mà họ đến trại giặc với hai tay không. Sử sách nay vẫn còn ghi chép rõ ràng tội ác đó, sđd (1). Phan kế Bính đánh giá bọn “bần tiện “ quả không nặng lời! Không muốn mình phải chịu cảnh ô nhục trong tay địch, thừa lúc sơ ý của bọn lính canh của giặc, vua tôi cùng nhào xuống biển tuẩn tiết. Oanh liệt và hào hùng!
II- Toàn văn nguyên tác và bản dịch quốc âm
            Dân tộc ta đã được may mắn đọc lại khúc ngâm anh hùng ca này là do hai công ghi chép, một là tiến sĩ Lý Tử Tấn đời Lê thánh Tông có chép lại dưới tên là Cảm hoài và viết lời bình; hai là của Lê Quí Đôn (1726 - 1784) trong Toàn Việt Thi Lục có chép lại bài này dưới tên Thuật hoài. Một bài thơ duy nhất còn lại của thi nhân tráng sĩ Đặng Dung nhưng là thiên hạ đệ nhất thi.
2.1-Nguyên tác
感懷
世事悠悠奈老何
無窮天地入酣歌
時來屠釣成功昜
運去英雄飲恨多
致主有懷扶地軸
洗兵無路挽天河
國讎未報頭先白
幾度龍泉戴月磨
2.2-Phiên âm
Cảm hoài
Thế sự du du (1) nại lão hà (2) 
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca (3)
Thời lai đồ điếu (4) thành công dị
Vận khứ (5) anh hùng ẩm hận đa 
Trí chúa (6) hữu hoài phù địa trục 
Tẩy binh (7) vô lộ vãn thiên hà 
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (8)
Kỷ độ Long Tuyền (9) đái nguyệt ma.


2.3- Chú các từ mang tính lịch sử:

1 - Thế sự du du (1), khắp đất nước nơi đâu cũng hoang mang vì bị giặc Tàu mượn cớ họ Hồ cướp ngôi của nhà Trần, họ mang binh sang xâm lăng và tàn phá và thiết lập chế độ đô hộ nước ta, toàn dân tộc ta chưa có giải pháp nào khả dĩ để đánh đuổi quân xâm lược.

2 - nại lão hà (2), già rồi làm sao chừ, bối rối sâu.

3 - hàm ca (3), là khúc ca vui khi đấng trượng phu mượn rượu để nói lên chí khí mình; tỉ như Lý Bạch đã từng như thế trong bài “Xuân nhật túy khởi ngôn chí”; hay như Nguyễn Phi Khanh trong bài các bài minh, bài phú, sđd(2) .

4 - đồ điếu (4), đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang; điếu là người đi câu, chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà Hán (dưới mắt Đặng Dung, cả hai đều là bọn bần tiện, đồ tiểu tốt)    

5 - Vận khứ (5) chỉ thời vận nhà Trần đã qua, sự việc Giản định đế đã u mê giết tướng Đặng Tất, cha Đặng Dung, khiến cho sức chiến đấu của lực lượng khởi nghĩa suy yếu.

6 - Trí chúa (6) ý nói lòng quyết tâm tiếp tục phò tiên triều (Trần). gác qua mối thù giết cha; Đặng Dung đã lập Trần quý Khoách lên làm vua, đôn Giản định đế lên làm thái thượng hoàng, lo đánh đuổi giặc Tàu xâm lược là nhiệm vụ trước mắt.

7 - Tẩy binh (7), Ý nói đất nước thanh bình không còn cảnh binh lửa, sau khi thắng trận trở về, các tướng cầm quân tìm đến bãi sông rộng để binh sĩ được tắm mát nghĩ ngơi.
Điển từ Tẩy Binh lấy trong bài Tẩy Binh Mã (Tẩy rửa binh mã) của Đỗ Phủ:

An đắc tráng sĩ vãn thiên hà;
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng.

Tạm dịch nghĩa:

Yên được tráng sĩ kéo ngược sông Ngân hà 
Tẩy sạch giáp binh dài lâu không dùng đến nữa.

8 - đầu tiên bạch(8), nhắc tích Ngũ Tử Tư, một nhân vật thời Đông Châu, trong một đêm chờ qua lọt cửa thành mà đầu bạc trắng, khi lòng mang nặng mối thù nhà.

9 - Long Tuyền(9) thanh tể tướng kiếm, đây là thanh dương, một trong bốn kiếm báu trong kho tàng điển tích Tàu.

(Xin xem chi tiết các chú thích từ, điển ở phần hai )

2.4-Tạm dịch nghĩa 

Nỗi niềm hoài bão

Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể , bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bảo xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền .

2.5- Điểm qua đôi nét tài hoa của người xưa 

01- Về âm vận, Đặng Dung đã dùng âm “a” là một âm vang, âm vui khi sáng tác bài này.
Ông đã dùng rất nhiều điển tich và điển từ của người xưa từ Đỗ Phủ (tẩy binh) đến các bài minh, bài phú của tiến sĩ Nguyễn phi Khanh (hàm ca).

02- Về nội hàm câu 2 –“Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” đã mang một nội hàm như sau:

Vô cùng thiên địa, lấy ý tưởng trong Luận ngữ của Khổng tử, "Thiên hạ ngôn tai!, tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tai!", nghĩa là “Trời có nói đâu!, bốn mùa vận hành, trăm vật nẩy nở, trời có nói đâu!" sđd(2); các thi nhân Tàu đời Đường mượn nó để diễn đạt cho từ ước lệ "du du" trong thi ca của họ. 

+Nhập hàm ca, vậy thì ta (Đặng Dung) hãy nói lên cái chí hướng của mình bằng khúc “hàm ca”, như ngài Nguyễn Phi Khanh ngày ấy: “Kiền khôn chi quang tể nan thường, hào kiệt chi kinh luân hữu hội, an đắc tố tử thanh, sung bích hư, tông du u tạo hóa chi sở ngoại da! “ tạm dịch “ Trời đất quang tạnh không thường, hào kiệt làm việc kinh luân có hội, ta mong muốn làm sao được lên khoảng trời tía trong vắt kia, muốn được xông vào cõi biếc thẳm không hư để theo chơi nơi hội ngộ cùng Tạo hóa!”. sđd(2).
Câu “Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” xin tạm dịch thoát ý thơ là “hãy hòa nhập cùng trời đất huyền ảo để thỏa cái chí của mình”; vì lẽ đó, điều hay nhất là bạn hãy cố gắng nhớ thuộc lòng câu thơ nguyên tác vô cùng kỳ ảo, thay vì vừa ngâm vừa gõ vào miệng ly rượu mà hát nghêu ngao "vô cùng trời đất gõ bầu mà ca.”, quả thật khó có câu thơ thất ngôn bát cú nào xưa nay chuyển tải hết được lời của người xưa trong bảy chữ như thế!

03- Phù địa trục trong câu 5, “Trí chúa hữu hoài phù địa trục”,  xin tạm dich nghĩa “hết lòng với chúa có hoài bảo nâng trục trái đất“ (riêng Phù địa trục, là xoay đổi trục quay trái đất, là xoay thời vận, làm thay đổi mệnh trời); trí tưởng tượng của người xưa thật phong phú. Ông bà ta "Cóc nghiến răng trời phải sợ" nữa mà! Trong bài Hạo ca hành, của Bạch Cư Dị có nhắc về thời vận, ông nói muốn cho tâm mình được thập phần an lạc thì hãy chớ nên cãi mệnh trời:

功名富貴須待命

Công danh phú quý tu đãi mệnh,

命若不來知奈何

Mệnh nhược bất lai tri nại hà?

Vinh hoa chờ mệnh vuông tròn  

Mệnh mà chưa đến chớ hòng hơn thua! Sđd(6) 

Rõ ràng phong cách Việt được người tráng sĩ Đặng Dung thể hiện xoay mệnh trời cũng đủ nói lên cái khí phách của tiền nhân ta hơn hẳn người Tàu, triết lý ba Tàu dạy họ luôn chịu cúi mình theo mệnh trời mà Bạch cư Dị (浩歌行) là một điển hình. Hãy hết sức mình, hãy cố mà xoay trục đất lỡ thất bại thì hòa mình cùng trời đất mà vui “Vô cùng trời đất hát hàm ca.” của Đặng Dung là vậy.

03-Mỗi câu hàm chứa một giai đoạn lịch sử có thật xảy ra trên đất nước ta thời ấy. Điển từ và điển tích được ông chọn rất kỹ (Ngũ Tử Tư, kiếm Long Tuyền).(xin xem phần II, đọc thêm)

04-Ông đã đánh giá lại hai nhân vật Phàn Khoái (đồ), Hàn  Tín (điếu), ông xếp họ vô loại tiểu tốt, cụ Phan Kế Bính còn dùng từ nặng hơn, họ là bọn bần tiện, đó là một lối đánh giá khác hẳn với cách đánh giá khác với giới sĩ phu Tàu, trong đó thi nhân Đặng Dung cũng cho Trương Phụ người đã thắng ông, và cả đất nước của Trương Phụ cũng là xứ sở bần tiện cực kỳ. Vậy anh hùng là ai? Xin thưa, đó là vua tôi ông và các tướng chiến hữu của ông (xin xem phần II, đọc thêm).

04-Sự dũng mãnh của người tráng sĩ đâu phải chỉ biết cầm gươm xông pha trận mạc, mà còn ý chí, mà còn lối suy tư đứng đắn của một người tể tướng, như các câu 5 và 6 .

05-Lời nhắn gởi kinh nghiệm của người lãnh đạo cuộc kháng chiến, một đời mài thanh tể tướng kiếm Long Tuyền bảo vệ tổ quốc, truyền khí thế, như là di ngôn nhắc nở cho muôn đời sau với kẻ thù phương Bắc. (Xin xem phần II, đọc thêm), các câu 7 và 8.

2.6-Dịch thơ quốc âm 

Cảm hoài

Thế sự mang mang lại tuổi già!     
Vô cùng trời đất gõ bầu ca (10)  
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ (11),
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta (12)!.
Phò chúa một lòng xoay trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc! 
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!


Chú riêng: gõ bầu ca (10)   là cách thể hiện “hát hàm ca“ ngày nay khi chúng ta đã quá quen thuộc bài Hồ trường, vô cùng, (11) lên sao dễ, (12) nhận thế ta là các cụm thành ngữ đa ngữ nghĩa.

2.7-Bản dịch của một thời làm học sinh trung học:

Cụ Phan kế Bính dịch:

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Cụ Trần Trọng Kim trích đưa bản dịch vào sách Việt nam sử lược của Cụ, nhờ vậy đã được rất nhiều người thuộc do đọc lịch sử. Ngày nay bạn có thể vào google mà tìm sẽ gặp nhiều các bản dịch khác.

III- Lời cuối, đề nghị của người viết.

Đề nghị bạn nên học thuộc bản văn nguyên tác, bởi khó có một bản dịch nào lột được tất cả ý người xưa, các chữ “hàm ca, đồ điếu, tẩy binh, đầu tiên bạch, long tuyền…”, do hiệu ứng quả cầu tuyết trong ngôn ngữ, chúng đã mang trong mình một sức truyền cảm và gây nên một cảm thú riêng cho khách thơ.

Tại sao đối với một bộ phận chúng ta khó học thuộc nguyên tác nhất là những khách thơ không phải là dân văn chương nhà nòi; có lẽ do vì, có thể có những từ Hán mà chúng ta ngày nay không sao hiểu chính xác được nghĩa vì quá ư xa lạ, hoặc từ ấy có thể khiến ta hiểu lầm nghĩa gốc khi chúng ở dạng ký tự vuông. Nhằm hỗ trợ các bạn, xin cập nhật phần chú dưới đây:

01- những từ Hán đã được Việt hóa gần hoàn toàn  

Thế sự, vô cùng, thiên địa, hận, đa, quốc thù, đầu tiên, bạch, địa trục, vị báo thì các bạn đã rõ .

02- và những từ Hán còn đang chờ thuần hóa

du du là mang mang; dị là dễ, như giản dị; ẩm là uống, ẩm hận là nuốt hận; trí là làm hết bổn phận, ví dụ trí lực là hết sức; hữu hoài là có hoài bão; phù là nâng; tẩy binh là rửa binh giáp; vãn là kéo lại, xoay lại, vị là vì, kỷ độ là đã bao thời qua, kỷ là bao nhiêu, độ là đã qua, kỷ độ là bao nhiêu lần qua …; đái là đội; ma là mài, như chữ ma sát trong vật lý học.  

Chỉ cần bấy nhiêu, các bạn có thể học thuộc nguyên tác được rồi đó. Đọc để nhớ tiền nhân, đọc để cất đi mặc cảm là chỉ có thơ Đường là nhất, quả là quá sức sai lầm do sự “nổ” của những người biết năm ba chữ Tàu!. Hãy đọc đi! Dòng thơ chữ Hán của tiền nhân ta còn nhiều lắm. 

Xin mời bạn đọc lại một lần nữa, hy vọng lần này thấm hơn, thú vị hơn

Cảm hoài

Thế sự du du nại lão hà 
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca 
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa 
Trí chúa hữu hoài phù địa trục 
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà 
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma


Xin cám ơn các bạn đã đọc và yêu mến Đặng Dung.


Tham khảo 

01-Trần trọng Kim, Lịch sử Việt Nam, nxb THTPHCM, 2005, chương XII nhà Hậu Trần, và các chương khác về sự bạo tàn của Tàu đối với dân Việt trong suốt 1000 Bắc thuộc. Đặc biệt cụ TTK chỉ dùng trước sau một từ Tàu, để chỉ Trung quốc ngày nay!.

02-Nguyễn đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập V , (Tư tưởng Việt Nam thời Hồ, 1380-1407) nxb TPHCM,1998.

03 -Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ về thơ,Văn nghệ, California,USA,1989

04- Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ,Văn hóa thông tin, 2001

05- trong quá trình viết bài này, có sử dụng một số tư liệu khác trên mạng internet, Vi-wikipedia.com và đã đọc chừng trên dưới hơn 2500 bài thơ Đường để viết lời xác quyết trên.

06-Laiquangnam, Đường thi nửa chặng, laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất, chưa xuất bản.
-o0o0-

                Laiquangnam

TƯỚNG QUỐC CÔNG ĐẶNG TẤT (Năm 1352-1409)

Đặng Tất sinh năm Nhâm Thìn (1352), quê thôn Tả Hạ, xã Tả Thiên Lộc, huyện Phi Lộc (Thiên Lộ) lộ Nghệ An, nay là xóm Tài Năng, xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đậu Thám hoa thời Trần Thuận Tông (1388-1398).

Thân phụ Đặng Tất là tri châu Đặng Đình Dực, sinh đồ Quốc Tử Giám, thân mẫu của Ngài là Từ Huệ.

Đặng Tất là cháu 7 đời Thám hoa Đặng Ma La (1234). Ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi, giỏi cả văn chương, cả võ nghệ binh thư, vì thế lớn lên Ngài trở nên văn võ toàn tài.

Vốn xuất thân từ một danh gia vọng tộc, trong đó có nhiều vị tiền bối từng đỗ đạt cao, làm quan to được người đời trọng dụng và sử sách lưu danh, Ngài đi thi Hương đậu Cống sĩ, đi thi Hội trúng Tam trường, đi thi Đình trúng Thám hoa, ra làm quan đến chức Hành Khiển. Cuối đời Trần Ngài giữ chức Đại tri châu Hoá Châu.

Châu Hoá cuối đời Trần nằm ở phía nam Châu Thuận, giáp giới đất Chiêm Động của Chiêm Thành, bao gồm các vùng Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và các huyện phía Bắc Quảng Nam ngày nay.

Năm 1400 khi nhà Hồ lên thay nhà Trần, đổi tên quốc hiệu gọi là Đại Ngu. Hồ Quý Ly giao cho Đặng Tất tiếp tục giữ chức Đại tri châu Hoá Châu như trước. Năm 1402, Đặng Tất được lệnh chuẩn bị đủ lương thực, quân trang dân phu... ở nơi địa đầu, phục vụ cho Hồ Hán Thương đi đánh quân Chiêm Thành. Sau trận đại thắng này, vua Chiêm Thành phải dâng cho nhà Hồ vùng đất của 4 châu Thăng – Hoa – Tư – Nghĩa.

Đặng Tất gắn bó với đất Châu Hoá 17 năm trời, phúc cùng hưởng, khó khăn hoạn nạn cùng lo, bản thân sống liêm khiết mẫu mực, được nhân dân coi như quan phụ mẫu, triều đình coi như thổ quan tâm phúc của mình.

Cuối năm 1406, vua Minh Thành Tổ (phương bắc) sai tướng Trương Phụ và Mộc Thạch đem 20 vạn quân sang xâm lược nước ta, lấy cớ “Phù Trần diệt Hồ”. Mặc dù nhà Hồ đã có dự liệu trước và có sự chuẩn bị khá chu đáo nhưng trước sức tấn công mãnh liệt của quân giặc, đã không có kế hoạch chiến lược, chiến thuật thích hợp, lại thêm lòng dân không phục, không theo nên nhanh chóng bị thất bại, đến nửa năm sau (1407) Hồ Quý Ly, Hồ Hán Chương, Hồ Nguyên Trừng và nhiều thân vương, tướng lĩnh bị giặc Minh bắt và giết chết.

Lợi dụng lúc quân Minh ồ ạt kéo quân vào đánh chiếm Đại Ngu, vua Chiêm Thành một mặt xúi giục một bộ phận người Chiêm trên đất Thăng Hoa nổi giậy, mặt khác thúc quân lính tiến ra Bắc đánh chiếm Thăng Hoa, uy hiếp Châu Hóa

Từ năm 1402, nhà Hồ đã điều Nguyễn Cảnh Chân vào làm An Phụ sứ lộ Thăng Hoa nhưng thực quyền vẫn là Hoàng Hối Khanh và một phần đất còn lại là Châu Tử, Châu Nghĩa vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Chế Ma Nô Đà Nan.
- Một thân vương của Chiêm Thành đã quy hàng sang nhà Hồ, được nhà Hồ phong cho làm Huyện Thượng hầu và ở lại trông coi.

Khi quân Chiêm Thành do vua Chiêm Ba Dịch lại cầm đầu tiến hành đánh Thăng Hoa, Hoàng Hối Khanh bỏ chạy ra Hoá Châu, còn Chế Ma Nô Đà Nan bị giết chết tại trận.

Hoàng Hối Khanh chạy đến Hoá Châu thì bị trấn thủ sứ lộ Thuận Hoá là Nguyễn Phong ngăn chặn không cho vào thành.

Đặng Tất thấy vậy rất bất bình bèn đưa quân ra cứu Hoàng Hối Khanh, sau đó cử người đưa Hoàng Hối Khanh về Bắc. Trên đường về ra đến cửa sông Lam thì gặp quân Trương Phụ chặn đánh. Hoàng Hối Khanh bị truy đuổi liền nhảy xuống sông tự tử. Trương Phụ cho vớt xác lên chặt đầu lên bêu ở chợ Đông Đô.

Còn ở Thuận Hoá, có Tả Châu Phán là Nguyễn Rỗ cùng phe với Nguyễn Phong, khi nghe tin Nguyễn Phong bị giết chết bèn đưa quân ra đánh Đặng Tất. Hai bên đánh nhau cả tháng trời, cuối cùng do không có viện binh, Nguyễ Rỗ đem tàn quân sang đất Chiêm Thành. Về sau dưới áp lực của tướng Trương Phụ, vua Chiêm Thành phải giao nộp Nguyễn Rỗ, quân Minh giải sang Kim Lăng rồi giết chết ở đó.

Trước thế giặc mạnh như vũ bão, Đặng Tất nhận rõ sức mình, nếu lúc này mà đem quân mình chiến đấu với giặc mạnh như thế chẳng khác nào lấy trứng trọi với đá. Vì vậy, Ngài đã tính đến khả năng chạy đến Chiêm Thành, rồi tính đến chuyện gây dựng lại sau này, hoặc tương kế tựu kế trá hàng nhà Minh theo lời kêu gọi của Trương Phụ. Đặng Tất đã bàn bạc với các em, các con và các sĩ phu tâm phúc thân cận, cuối cùng đi đến quyết định trá hàng để bảo toàn lực lượng, sau đó tạo cơ hội, tính bề rửa hận.

Trương Phụ lấy được Hoá Châu nguyên vẹn và dễ dàng trong bụng lấy làm hả dạ. Hắn thực hiện âm mưu “dùng người An Nam trị người An Nam” bèn vỗ về Đặng Tất rồi tiếp tục giao giữ chức Đại tri châu Hoá Châu và thêm một phần đất Thuận Châu.

Tuy nhiên, giặc Minh vẫn cử nhiều tên quan lại người Minh cùng 5000 quân sĩ ở tại Hoá Châu giám sát động tĩnh.

Quân Minh sau khi đập tan sự đề kháng của triều Hồ coi như đã bình định được toàn cõi nước Việt, bèn tính đến việc rút quân để tránh thời tiết nắng nóng ác liệt và đường tiếp tế khó khăn phức tạp ở nơi này. Tháng 8 năm 1407 Ngài cho Mộc Thạch đưa một bộ phận rút quân về nước. Trương Phụ còn ở lại đến năm sau để lập lại quyền cai trị. Đất Giao Châu chia lại thành 5 năm châu, 15 phủ gồm 36 huyện, giao cho Đô chỉ huy Lữ Nghị giữ chức Đô ti, thượng thư Hoàng Phúc, Đô Đốc Hoàng Trung, phó Đô Ti. Từ đó quân lính ngày đêm canh giữ, tiến hành đàn áp, cướp phá, bóc lột nhân dân hết sức tàn tệ.

Nhân dân Đại Việt không cam tâm làm nô lệ đã đứng lên khởi nghĩa khắp nơi, chống lại ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh. Nhân dân Cao Bằng nổi dậy giết chết tướng giặc Cao Sĩ Văn; Phạm Chấn nổi lên ở Đông Triều, Trần Nguyệt Hồ, Phạm Tất Đạt nổi lên ở Bắc Giang, Trần Nguyên Thôi nổi lên ở Phú Thọ; Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bi nổi lên ở phủ Thái Nguyên....Tuy nhiên lực lượng mỏng, dàn trải ở nhiều nơi lại thiếu thủ lĩnh có tài chỉ huy nên chỉ sau một thời gian ngắn bị quân Minh đánh lại quyết liệt đã nhanh chóng bị thất bại.

Cuộc khởi nghĩa đáng kể nhất là của Trần Triệu Cơ ở Yên Mô, Trường Yên, Ninh Bình vào cuối năm Đinh Hợi (1407), để gây thanh thế đã tôn phù Giản Định Trần Ngỗi (Con thứ của vua Trần Nghệ Tông 1370 – 1372) lên làm Giản Định Đế, lập hành cung ở Yên Mô phất cao cờ đánh đuổi giặc Minh, khôi phục nhà Trần.

Giản Định Đế vừa mới phô trương thanh thế, đánh thắng bọn nguỵ quan giải phóng được một số làng xã trong vùng, lập tức bị bọn tướng Minh đem quân tiến đánh, lực lượng nghĩa quân lúc ấy còn non trẻ cũng nhanh chóng bị đánh bại. Giản Định Đế buộc phải thu tàn quân rút vào Nghệ An.

Đặng Tất bấy giờ ở Hoá Châu biết tin Giản Định Đế đứng lên khởi nghĩa nhưng đang thất thế, chạy vào Nghệ An.

Vốn sẵn lòng yêu nước nồng nàn, văn võ đều giỏi, chỉ vì vận nước thất cơ, bất lợi nên phải tính kế trá hàng quân Minh, nay Đặng Tất nghe tin họ Trần có người nối nghiệp, muốn tính chuyện đại sự nên rất mừng. Đặng Tất đã bí mật bàn với những người em Đặng Đức, Đặng Quý, Đặng Quang, cùng các người con Đặng Dung, Đặng Chủng, Đặng Liên, Đặng Thát, Đặng A Thiết, Đặng A Noãn và cả người con gái yêu là Thuý Hạnh lập mưu, dùng binh lực đã có hàng vạn người trong tay, đánh tan bọn quân Minh tại Vệ Sở - Thuận Hoá, giết chết bọn quan quân nhà Minh đang giám sát tại Châu Lỵ - Hoá Châu.

Diệt xong bọn giặc minh ở Thuận Hoá, Đặng Tất giao cho 2 người em là Đặng Đức, Đặng Quí tạm quyền việc trấn tại Hoá Châu, rồi thu nạp quân lính gần vạn người kéo ra Nghệ An xin theo Trần Ngỗi.

Giản Định Đế Trần Ngỗi gặp được Đặng Tất với đội quân hùng mạnh, trong bụng vừa mừng, vừa lo. Mừng là nay có thêm đội quân hùng mạnh tôn phò, lo là vì trong lòng dạ vẫn có mối ngờ vực về con người Đặng Tất, vì sao Đặng Tất được cả Hồ Quý Ly lẫn tướng Minh – Trương Phụ đều tin dùng, đều giao lại giữ chức Đại chi Châu Hoá? lại biết rất rõ Đặng Tất lại xuất thân từ một gia đình khoa cử có tiếng tăm, giỏi cả văn lẫn võ đã thi đậu Thám hoa vào cuối triều Trần!.

Đặng Tất khi gặp Trần Ngỗi nhìn thấy nét tươi cười lẫn e ngại trên khuôn mặt, hiểu ngay tâm trạng của ông vua này trong lòng dạ còn ngờ vực mình?

Đặng Tất suy nghĩ lao lung và đem chuyện đó ra bàn với các con. Cha con bàn đi tính lại, nói làm sao, có việc làm gì để tỏ rõ sự chân thành của mình cho Trần Ngỗi tin dùng.

Đặng Tất ngồi im lặng một lúc, đưa mắt nhìn người con gái yêu ngồi bên cạnh.

Đặng Thị Thuý Hạnh lễ phép xin thưa với cha: Vì nghĩa lớn con xin đưa phận mình tạo dựng nên lòng tin của Đức vua, để từ đó cha có cơ hội được báo đền nợ nước!.

Đặng Tất nói rằng: E một nỗi Đức Vua đã có chính phi Đỗ Thị Nguyệt rồi, mà nghe đâu người đàn bà ấy hết sức cay nghiệt!.

Nghe Thuý Hạnh đưa ra ý kiến rất quả quyết, Đặng Tất và các người anh vừa thương, vừa cảm phục Thuý Hạnh đã hi sinh thời con gái vì nghĩa lớn.

Vui mừng chấp nhận Đặng Thị Thuý Hạnh làm Hậu phi, Giản Định Đế lập tức xoá tan mọi nỗi nghi ngờ, phong cho Đặng Tất giữ chức Quốc công Tiết chế, giao cho thống lĩnh toàn bộ nghĩa quân lo việc đánh giặc.

Giản Định Đế còn đồng thời phong chức cho các người anh của Thuý Hạnh: Đặng Dung giữ chức trấn quốc tướng công, Đặng Chủng được phong Hàn lâm viện thị giảng, Đặng Liên đã phong Hiệu thư, Đặng Thất được phong Đô uý.

Lúc bấy giờ khắp các nơi trong nước biết tin Đặng Tất vừa diệt tan bọn quân Minh ở Hoá Châu, đưa toàn bộ gia đình và binh lực tôn phù Giản Định Đế cho nên nhiều cựu thần, tướng lĩnh của triều Trần, triều Hồ cùng nhiều sĩ phu, tráng sĩ yêu nước khác đã lần lượt tìm đường về Nghệ An xin gia nhập nghĩa quân.

Nguyễn Cảnh Chân người đất Ngọc Sơn (Nam Đàn - Nghệ An) là An phủ sứ lộ Thăng Hoa, vốn là bạn thân của Đặng Tất, cũng kéo quân ra Nghệ An xin nhập, được Giản Định Đế phong chức Đồng chi khu mật viện tham mưu quận sự.

Tiếp theo Phạm Chấn, Trần Ngạn Chiêu... đều là thủ lĩnh quân khởi nghĩa bị tướng Minh đánh tan rã cũng tìm đến Nghệ An xin gia nhập. Đến cuối năm 1407, thế lực nghĩa quân của Giản Định Đế đã trở nên khá mạnh.

Đầu năm 1408, dưới sự chỉ huy của Quốc công ĐẶng Tất, nghĩa quân mở đợt tấn công lớn tiến đánh các lộ thành Nghệ An, Diễn Châu, tiêu diệt bọn quý tộc nhà Trần đầu hàng giặc Minh như Trần Thúc Dao, Trần Nhật Chiêu...giải phóng hai lộ Nghệ An và Diễn Châu, gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay.

Trương Phụ bấy giờ đang định đưa quân về Bắc, bỗng nghe tin báo Nghệ An, Diễn Châu bị thất thủ mất vào tay quân khởi nghĩa, bèn thay đổi kế hoạch lập tức đưa quân xuống phía nam cùng các tên nguỵ quan Tham Chính Mạc Thuỵ ở Diễn Châu, Tri phủ Phạm Thế Căng ở Thăng Bình, v.v... đánh tan tác quân khởi nghĩa, buộc Đặng Tất phải đưa Giản Định Đế rút chạy, bỏ Diễn Châu và Nghệ An, để bảo toàn lực lượng, phải đưa quân trở lại căn cứ ở Hoá Châu, chờ thời cơ phản công lại.

Tháng 4 năm 1408, Trương Phụ rút quân bản hộ về nước theo lệnh của Minh Thành Tổ.

Sau khi Mộc Thạch, Trương Phụ rút đại bộ phận quân mình về nước, chỉ còn lại vài vạn tên, chúng lại phải đóng phân tán, sức mạnh tập trung bị giảm sút đáng kể. Lợi dụng thời cơ đó, Đặng Tất rước Giản Định Đế trở lại Nghệ An.

Không thể để quân Minh chia cắt vùng đất Hoan Châu với Nghệ An, Đặng Tất cùng Nguyễn Cảnh Chân thống nhất với Giản Định Đế đem quân đánh tan bọn Phạm Thế Công, Phan Quí Hữu, Phạm Đống Cao... ở Tân Bình, ở vùng An Đại. Thắng trận, Đặng Tất chia quân đi các ngả truy bắt tàn quân nhà Minh và bọn quan lại làm phản còn ẩn trốn trong vùng, đồng thời yết thị kêu gọi hào kiệt và trai tráng đứng lên theo nghĩa quân đánh giặc. Nhân đà thắng Tân Bình, Đặng Tất cho quân đánh cả hai mặt đường thuỷ và đường bộ giải phóng Thuận Châu. Thắng trận này đã có vùng giải phóng rộng lớn từ nghệ An vào đến Hoá Châu.

Mùa thu năm 1408, Đặng Tất đưa quân sĩ đánh quân Minh, giải phóng vùng đất Diễn Châu, Thanh Hoá, và tiếp tục cho quân đánh các trận ở Bình Than, Tam Giang Phú Thọ, vây hãm vùng ngoại vi thành Đông Quan.

Trước thế lực bị vây hãm, bọn tướng Minh Lữ Nghị, Hoàng Phúc, Hoàng Trung...không chống nổi buộc phải cố thủ Đông Quan, và phải viết sớ về Kim Lăng xin Minh Thành Tổ đưa quân sang cứu viện khẩn cấp.

Bấy giờ Minh Thành tổ tuy bận phải đối phó với quân nổi loạn ở các tộc Thát Đát, Ngoã Lạt, Ngột Lương, v..v..nhưng vẫn không thể không để ý đến phương Nam, liền sai Tổng binh Kiến quốc Công Mộc Thạch cùng 5 vạn quân trở lại Đại Việt theo đường Vân Nam – Đông Quan tiến xuống phía Nam cứu viện.

Tướng Mộc Thạch và Lưu Tuấn đưa 5 vạn quân tới thành Đông Quan, đã hội tụ với tướng Lữ Nghị, Lưu Dục còn đang cố thủ trong thành hợp thành đạo quân mạnh gồm 10 vạn tên, chúng phân chia làm 2 mặt thuỷ bộ tiến xuống phía Nam, với ý định nhanh chóng bóp vụn nghĩa quân, tiêu diệt Giản Định Đế, Đặng Tất để bình định đất phương Nam.

Nghe tin ấy, nhân dân càng nung nấu ý chí căm thù giặc, hàng vạn người xin ra nhập nghĩa quân. Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân cùng nhiều tướng quân khác đang ngày đêm luyện quân và chuẩn bị khí giới, quân lương cho các trạn quyết chiến sắp tới và thống nhất kế sách dùng ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, dựa vào sở trường của mình đánh vào sở đoản của giặc, có chắc thắng mới đánh...

Đặng Tất cùng bộ chỉ huy nghĩa quân tiên đoán rằng: Mộc Thạch là tên tướng già có kinh nghiệm chỉ huy trận mạc, lại thuộc địa hình, chiến trận nước ta, vì vậy quân ta phải chủ động nhử quân giặc vào trận địa mà ta đã phục sẵn ở tuyến Tam Điệp - Điện Sơn và sẽ tiêu diệt chúng ở Bô Cô.

Quân đường bộ của Mộc Thạch gồm bộ binh và kị binh tiến theo đường thiên lý Bắc – Nam đến bờ bắc sông Đáy, bắc cầu vượt qua đánh sang hữu ngạn, vượt đèo Tam Điệp, tiến vào Thanh Hoá...

Quân thuỷ đi từ Đông Quan xuôi theo sông Cái (sông Hồng) băng qua sông Châu Giang (ngày xưa sông rất rộng) và sông Đáy, qua Thanh Liêm, Lý Nhân theo bờ sông Đáy đến Bô Cô – Phúc Thành gặp quân đường bộ.

Đánh đòn đường thuỷ thì giao cho Đặng Dung chỉ huy, cho quân dùng thuyền nhỏ, nhẹ, luồn lách mai phục trong lau sậy, cỏ lác....

Đánh đường bộ cho quân chốt chặt, mai phục ở Ý Yên, Thanh Liêm, Hoa Lư...và nhử quân Minh xuống bến Bô Cô.

Bến Bô Cô bên bờ sông Đáy, nơi đây xung quanh là đất sình lầy, lau sậy rậm rạp sẽ không thích hợp với đội quân kị binh, đánh bộ của Mộc Thạch.

Sau 2 ngày hành quân, quân đường bộ đã hạ trại nghỉ ngơi cách Bô Cô vài dặm, quân đường thuỷ cũng vậy, dàn quân cách xa vài dặm mới đến Bô Cô. Tướng Mộc Thạch, Lữ nghị đã cho quân di dò xét động tĩnh cũng chẳng thấy gì.

Sáng sớm hôm sau, cả quân bộ lẫn quân thuỷ của quân Minh tiến vào Bô Cô, mặc cho chúng hí hửng hi vọng trận này sẽ bóp nát nghĩa quân, càng tiến sâu vào trận địa chúng càng hò reo.

Bỗng từ trên núi Dục Thuỷ, núi Cánh Diều pháo lệnh bắn lên không dứt, cờ lệnh được phất mạnh và nhiều đống lửa cháy lớn khắp trận địa, những cột khói bay mù trời, tiếng hò reo của nghĩa quân vang lên như sấm, cả vạn quân như từ dưới đất chui lên, vạch lau sậy trùng trùng lao thẳng vào quân Minh, đầu giặc bị chém rụng như sung, từng đoàn kị binh không sao chạy được, đành để mặc cho nghĩa quân đam chém. Cả tướng lẫn quân lao xao như bị đốt cháy nháo nhào trong lò thiêu khổng lồ.

Ở dưới sông quân ta giả vờ thua chạy, thuyền giặc đuổi theo khi nước còn ngập bãi cọc đến khi quân ta phản công, cánh quân mai phục hai bên bờ bắn tên ra như mưa và thuyền của ta quay đầu lại tấn công, buộc chúng phải tháo chạy, khi ấy nước rút, thuyền giặc mắc cạn, thuyền thì chìm, thuyền thì vỡ, quân giặc bị chết trôi nổi như lá rụng, máu nhuộm đỏ dòng sông, gây nên cảnh tượng vừa hào hùng vừa kinh hãi, hiếm thấy.

Chỉ chưa đầy một ngày, vào ngày 14 tháng Chạp năm Mậu Tý (1408) dưới sự chỉ huy tài tình của vị tướng Đặng Tất và bộ tham mưu cùng hàng vạn quân Minh hùng hùng, hổ hổ tan nát không còn mảnh giáp đeo thân. Tướng Mộc Thạch phải lẩn trốn trong thành Mộ Độ, nhiều ngày sau mới chạy thoát về Đông Quan.

Đại thắng Bô Cô thật sự là một trong những đại thắng tuyệt vời nhất của dân tộc Việt Nam ta.

Rất tiếc sau đại thắng, trong nội bộ cơ quan đầu não của nghĩa quân nảy sinh những bất đồng về sách lược dẫn đến nghi kị, cuối cùng hậu quả nguy hại, cực kì nghiêm trọng.

Trong khi Giản Định Đế chủ trương thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu một mạch, tiến đánh thẳng vào thành Đông Quan thì Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân lại muốn, một mặt truy bắt hết bọn giặc còn sống sót trong vùng, mặt khác chuẩn bị thêm về mọi mặt rồi hãy kéo đại quân về giải phóng Đông Đô.

Giữa lúc vua tôi đang bàn mưu kế ở lại bản doanh, đóng bên sông Hoàng Giang - Cầu Giám Khẩu, Giản Định Đế đã nghe lời bọn quan cận vệ, vốn có hiềm khích với Đặng Tất. Nguyễn Quí và Nguyễn Mộng Trang tâu rằng: Tất và Cảnh Chân chuyên quyền, nếu không tính sớm sẽ là mối hiểm hoạ sau này!.

Vốn đang tức giận Đặng Tất không nghe theo ý mình, nay nghe theo bọn xu nịnh càng thêm bất hoà, nghi kị. Vua bèn bày trò ma quỷ cho mời Đặng Tất – Cảnh Chân cùng ngự thuyền bàn việc quân rồi sai bọn lực sĩ bóp cổ Đặng Tất cho đến chết, Cảnh Chân vội nhảy xuống sông, cố bơi đến bờ cũng bị bọn lực sĩ đánh chết!.

Cái chết của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân vào lúc này đã làm mất cơ hội giải phóng thành Đông Quan. Trần Ngỗi lộ mặt là kẻ độc ác, tự thắt cổ mình để mất cơ hội làm Đế vương của nhà nước Đại Việt độc lập, mất cơ hội khôi phục nhà Trần.

Đặng Tất là con người tài hoa, anh hùng lỗi lạc, từng oanh liệt hiến trọn đời mình cho công cuộc khởi đầu kháng chiến thần thánh chống giặc Minh xâm lược, viết nên trang sử hào hùng đóng góp xứng đáng vào truyền thống lịch sử anh hùng bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm của nhân dân đất Việt.

Danh nhân Đặng Huy Trứ - Họ ĐẶNG ở Huế

ĐẶNG HUY TRỨ - Cánh chim bằng luôn muốn xông vào bão tố.
Đặng Huy Trứ sinh ngày 16/5/1825 tại làng Thanh Lương xã Hương Xuân huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đặng Huy Trứ được giới nhiếp ảnh tôn là Cụ Tổ nghề Nhiếp ảnh Việt Nam, bằng việc mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường (ngày 14 tháng 3 năm 1869) ở phố Thanh Hà, Hà Nội.
Ngày nay, giữa khuôn viên trường THPT Đặng Huy Trứ (thị Xã Hương Trà – T.T. Huế) có đặt tượng của cụ. Bức tượng bằng đồng do hội nhiếp ảnh Việt Nam dâng tặng.

Tiến sĩ Cao Tử Đăng người Trung Quốc đã tặng ông hai câu thơ:
“Đại gia văn vận tồn thiên
Nam quốc nhân tài kiến nhất ban”.
<Văn chương bậc lớn lưu thiên cổ,
Đệ nhất nhân tài rạng nước Nam>
Đặng Huy Trứ là một trong những gương mặt nổi trội của các nhà trí thức lớn Việt Nam ở thế kỉ XIX. Tài năng và trí tuệ tuyệt vời đã hội tụ trong con người ông.
Là một trí sĩ yêu nước ưu thời mẫn thế, Đặng Huy Trứ cũng như một số nhà trí thức chân chính cùng thời đều trăn trở trước sự tồn vong của đất nước. Ở ông có một khí chí lớn lao, một nghị lực phi thường và một lí tưởng cao cả. Ông không ham “ngựa béo, áo cừu”, ông chỉ có mỗi một điều ao ước duy nhất là lấy lại đất đai của Tổ quốc đã bị giặc Pháp dẫm đạp và cứu vớt muôn ngàn sinh linh ra khỏi vũng bùn lầy của sự đói khổ và chà đạp.
Phan Bội Châu đã xếp Đặng Huy Trứ là một trong những người có tư tưởng canh tân giống như Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch
- Về giáo dục: ông là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt nam đề xướng phương châm “sư đệ tương trưởng” (thầy và trò cùng học, cùng trưởng thành và là bạn của nhau”. Ông chủ trương mời người nước ngoài vào dạy các môn khoa học và cử người đi du học.
- Về văn hoá: ông phát huy thuần phong mỹ tục, tôn trọng di tích lịch sử, chống mê tín dị đoan. Ông còn là người đi đầu trong công tác chống nạn tham nhũng với tác phẩm “Từ Thụ Yếu Quy” dày 800 trang.
- Về kinh tế; ông là người đầu tiên thực hiện việc hợp doanh giữa nhà nước và tư nhân theo phương châm “công tư hưởng lợi”. Ông đề xuất hệ thống giao thông đường biển Bắc Nam, giao lưu kinh tế giữa miền xuôi và miền ngược, khai mỏ và xuất khẩu thiếc đem lại một nguồn lợi lớn cho đất nước. Làm quan ở đâu ông cũng chủ trương mở chợ, đào giếng, xây cầu và cấm giết trâu bò.
- Về quân sự: ông nhận thấy tầm quan trọng của sức mạnh nhân dân, quan hệ giữa tướng sĩ phải là quan hệ “như cha dạy con, anh dạy em, thầy dạy trò” . Trong kháng chiến chống Pháp ông chủ trương theo phái chủ chiến, xây dựng đội dân binh, tự đóng chiến thuyền, lập cục cơ khí, dạy nghề và mời chuyên gia phương Tây sang dạy học.
- Về tư tưởng: Chủ nghĩa yêu nước của ông là yêu dân và vì dân.

Danh nhân và người nổi tiếng họ Đặng (鄧) Việt Nam

Danh nhân và người nổi tiếng họ Đặng Trung Quốc

Sự nhìn nhận sai khác của một số người

  • Hiện nay có một số người cho rằng họ Đặng có nguồn gốc từ họ Trần nhưng số này không nhiều [6], theo sử sách chứng minh thì họ Đặng đã có nguồn gốc từ lâu đời, sau khi loạn Trần Tuân chạy về Lương Xá đổi thành họ Đặng và họ Đặng ở đây còn lưu giữ nhiều gia phả cổ nhất (trừ những bộ lưu tại bảo tàng lịch sử) nên một số người đã chỉnh sửa sai khác nhằm giải thích họ Đặng có gốc từ họ Trần.[7]
  • Qua các kết nối gia phả các dòng họ Đặng trên toàn quốc thì Tổ tiên họ Đặng được ghi nhận họ Đặng đầu tiên trong gia phả là cụ Đặng Phúc Mãn [8]
  • Thực ra họ Đặng đã xuất hiện từ thời vua Hùng [7] và có một số tên tuổi đã được ghi danh trong lịch sử trước cả Ông Đặng Phúc Mãn, như: Đặng Thi Sách chồng Trưng Trắc.Tuy nhiên, do nguồn cội đã lâu nên chưa tìm thấy được sự liên hệ từ thời vua Hùng, thời Hai Bà Trưng đến giai đoạn Ông Đặng Phúc Mãn.

Đặng Thì Thố


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đặng Thì Thố (chữ Hán: 鄧時措, 1526 – ?) là trạng nguyên[1] thứ 40 của Việt Nam. Ông là hậu duệ của Quốc công Đặng Tất, quê làng An Lạc (còn gọi là làng Thạc), huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Châu, thành phố Hải Dương)[1]. Hiện nay, ở các xã An Châu, Nam Trung và Nam Chính (Nam Sách) vẫn còn gia phả ghi về cụ Tổ Đặng Thì Thố - giỗ tổ là ngày 10/3 âm lịch. Ông đỗ tiến sĩ cập đệ khoa Kỉ Mùi năm Quang Bảo thứ 6 (1559) dưới thời vua Mạc Tuyên Tông[2], tuy nhiên theo bảng tra các vị tam khôi của Viện Hán-Nôm thì ông chỉ đỗ thám hoa (tiến sĩ cập đệ đệ nhất giáp đệ tam danh)[3]. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng chép rằng ông là Hội nguyên Đình nguyên Thám hoa[4]. Sau đó, ông trở thành quan của triều đình nhà Mạc, làm đến chức tả thị lang bộ Binh[cần dẫn nguồn], hàn lâm viện. Mộ của ông táng tại An Lạc, được con cháu trùng tu năm 2005[cần dẫn nguồn]. Con trai ông là Đặng Thì Mẫn (1549 - ?) cũng đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Hoằng Định thứ 14 (Quý Sửu, 1613)[5] thời Lê Kính Tông.
Ghi chú

    ^ a ă Danh sách trạng nguyên chép sai khi cho rằng quê ông hiện tại thuộc địa phận huyện Thanh Hà; đúng ra làng Thạc xã An Châu trước đây thuộc huyện Thanh Lâm, Nam Sách hay Nam Thanh, tùy theo từng thời kỳ, nhưng chưa bao giờ thuộc Thanh Hà. Hiện tại xã này cắt về thành phố Hải Dương.
    ^ Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên - Quyển XVI: Kỷ Nhà Lê - Anh Tông Tuấn hoàng đế, phụ: Họ Mạc (Phúc Nguyên 5 năm, Mậu Hợp 11 năm)
    ^ Danh sách các vị Tam khôi
    ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 2, khoa mục chí, trang 204.
    ^ Văn miếu Hà Nội: Văn bia số 28

Tham khảo

    Đặng tộc thế phả tự, Tiến sĩ Đặng Thì Mẫn (con trai Đặng Thí Thố) viết ngày 20 tháng năm năm 1640
    Đại Việt Sử ký Toàn thư
    Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú
    Đặng Tộc Đại Tông Phả, Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành giới thiệu, NXB Văn hóa Thông tin 2002
    Họ Đặng "Nam bang vượng tộc" thời Lý đến thời Lê, Nguyễn Văn Thành, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam

Đô đốc Bảo

Đô đốc Bảo (都督保) tên thật là Đặng Xuân Bảo (鄧春保; ?-1802), danh tướng nhà Tây Sơn, chỉ huy một trong 5 cánh quân đại phá quân Mãn Thanh, năm Kỷ Dậu (1789).
Trong Tây Sơn lương tướng ngoại truyện - Nguyên Trọng Trì có câu viết về Đô Đốc Bảo như sau: "Bảo ít đọc sách nhưng rất trung liệt và giàu mưu lược hơn người. Ông thường dùng đức để trị nên ai cũng theo"
Đặng Xuân Bảo quê quán ở đâu và sinh năm nào hiện không rõ. Trong sử sách có ghi rõ Đặng Xuân Bảo là bạn thân thiết của vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Năm 1789 trong chiến dịch đại phá 29 vạn quân Mãn Thanh Đô Đốc Bảo nắm cánh quân gồm chủ yếu là tượng binh và kỵ binh.
Tượng binh của quân Tây Sơn được trang bị đại bác hạng nhẹ trên lưng voi, bên trên bành voi ngoài nài voi còn được bổ sung binh lính có trang bị quân cung nỏ, súng và súng hỏa mai. Do vậy quân tượng binh của quân Tây Sơn rất lợi hại có thể ví như đó là cỗ xe tăng thời bấy giờ.
Kỵ binh Tây Sơn được trang bị rất gọn nhẹ, giáo dài, súng, súng hỏa mai và trường kiếm. Kỵ binh được trang bị giáp nhẹ nên có thể nói độ năng động và linh hoạt của kỵ binh Tây Sơn là rất cao.
Theo kế hoạch tác chiến của vua Quang Trung Nguyễn Huệ cánh quân của Đô Đốc Bảo sẽ theo đường qua Sơn Minh (Ứng Hòa - Hà Tây) rồi tiến xuống Đại Áng (Thường Tín Hà Tây) áp sát thành Thăng Long - Hà Nội.
Đô Đốc Bảo là một trong những tướng lĩnh cao cấp nhất trong hàng ngũ triều đình Tây Sơn. Ông được vua Quang Trung - Nguyễn Huệ phong tới chức Đại Đô Đốc.
Thời vua Quang Toản, Ông được phong là Bình Đông Tướng Quân.
Đặng Xuân Bảo là một trong những người quyết chí đánh trả Nguyễn Phúc Ánh. Trong một trận đánh với quân Nguyễn ở Thanh Hóa vào năm 1802 ông bị bắt. Đô đốc Đặng Xuân Bảo tuyệt thực rồi hi sinh.

Tham khảo

  • Danh tướng Việt Nam (tập 3), Nguyễn Khắc Thuần.

Đặng Tiến Đông

Đặng Tiến Đông (1738-?) làm quan thời Lê-Trịnh, sau đầu quân Tây Sơn và trở thành danh tướng của lực lượng này. Thân thế và sự nghiệp của ông hiện vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học Việt Nam.


Gia tộc

Theo bộ Đặng gia phổ hệ toàn chính thực lục [1] gồm 6 quyển do chính Đặng Tiến Đông biên soạn vào đời Tây Sơn (1792) và Ngô Thì Nhậm đề tựa, thì khi xưa, họ Đặng vốn họ Trần, tương truyền thuộc dòng dõi Trần Hưng Đạo. Về việc đổi họ, hiện có hai ý kiến:

    Ý kiến thứ nhất cho rằng, vào đầu đời Lê, một người con của họ Trần là Trần Văn Huy đỗ tiến sĩ, lấy tự là Đặng Hiên, từ đó, con cháu lấy tự của cha làm họ.
    Ý kiến thứ hai cho rằng, vào năm Tân Mùi (1511) thời vua Lê Tương Dực, một người con của họ là Trần Tuấn khởi binh chống nhà Lê. Cuộc khởi nghĩa thất bại, để tránh bị truy sát, con cháu họ Trần kéo về làng Lương Xá lập nghiệp và đổi sang họ Đặng [2].

Đến đời thứ 5 của họ Đặng là Đặng Huấn (có tài liệu chép là Đặng Đình Huấn), ban đầu ông giữ tước quan binh Khổng lý bá nhà Mạc. Năm 1549, ông cùng với Lê Bá Ly quy thuận nhà Lê. Sau nhờ có công giúp nhà Lê trung hưng nên được phong tới chức Thái úy, tước Nghĩa Quốc công rồi Hữu Trạch công. Con gái ông lại lấy chúa Trịnh Tùng sinh ra chúa Trịnh Tráng nên từ đó, họ Đặng trở thành một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan lớn trong suốt thời Lê-Trịnh.

Nhận xét về họ Đặng, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết: (Họ này) hơn hai trăm năm vinh hoa rực rỡ, hơn cả các họ công thần. Tục ngữ có câu: "Đánh giặc họ Hàm, làm quan họ Đặng". [3].

Ở vùng Chương Mỹ còn có đôi câu hát nhắc đến dòng họ Đặng như sau:

    Giàu thì Quảng Bị, Bối Khê,
    Làm quan Lương Xá, ngoại đê Đại Từ.

Hay:

    Bao giờ chợ Chúc hết người,
    Sông Ninh hết nước, Đặng này hết quan.

Thân thế & sự nghiệp

Đặng Tiến Đông hay Đặng Tiến Giản (鄧進暕) [4] sinh ngày 2 tháng 5 năm Mậu Ngọ (18 tháng 6 năm 1738), tại xã Thịnh Phúc, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay đã sáp nhập vào Hà Nội).

Ông thuộc chi trưởng dòng họ Đặng, gốc ở làng Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ), là con trai thứ tám của Dận Quận Công Đặng Tiến Cẩm (1679-1749) [5] và bà vợ lẽ thứ năm là Phạm Thị Yến. Ông là con trai thứ 8 trong gia đình. Các anh ông là Đặng Đình Trí, Đặng Đình Thiệu, Đặng Đình Cầu, Đặng Đình Tự, Đặng Đình Giám, Đặng Đình Tú và Đặng Đình Hữu đều được phong tước bá, tước hầu.

Năm 1749, lên 9 tuổi, Đặng Tiến Đông bắt đầu theo học thầy Doãn Xá tại chùa Thủy Lâm (còn có tên là chùa Lương Xá tại xã Lam Điền, Chương Mỹ).

Năm 1749, Đặng Tiến Đông 11 tuổi thì mồ côi cha. Mười năm sau, năm 1759, mẹ ông cũng qua đời.
Làm quan thời Lê-Trịnh

Năm 1763, Đặng Tiến Đông thi võ đỗ Tạo sĩ và ra làm quan. Năm 1782, con trưởng chúa Trịnh Sâm là Trịnh Khải dựa vào quân Tam Phủ giành lại ngôi chúa từ tay em là Trịnh Cán (con của Tuyên phi Đặng Thị Huệ). Sau khi giết Phụ chính Hoàng Đình Bảo và bắt Tuyên phi, quân Tam Phủ lùng bắt các quan họ Đặng và họ Hoàng. Anh ông Đông là Đặng Đình Thiệu cùng 30 người họ Đặng Khác hộ tống Tuyên phi bỏ trốn, bị Trịnh Khải bắt được và đem xử chém tại xã Nghi Kiều (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Đặng Tiến Đông phải bỏ quan đi trốn để tránh sự truy quét của chúa Trịnh Khải.

Những năm cuối đời chúa Trịnh (1784) ở Đàng Ngoài triều đình Lê-Trịnh đổ nát; trong khi đó ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan chuyên quyền, phong trào Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng chỉ huy nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn.
Đầu quân Tây Sơn

Đến giữa năm 1786, lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, thì giữa năm sau (1787), năm 48 tuổi, Đặng Tiến Đông đã lặn lội vào tận Quảng Nam, tìm đến quân doanh xin yết kiến Nguyễn Huệ. Từ đây, thân thế và sự nghiệp của ông bắt đầu gây nên một cuộc tranh cãi cho giới sử học sau này.

Căn cứ Tông đức thế tự bi (do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc) dựng trước chùa Thủy Lâm, thôn Lương Xá vào năm 1797, thì ông "được đón tiếp và đãi ngộ riêng, rồi được tin yêu ban cho ấn kiếm, giao cho thống lĩnh việc quân."

Cuối năm 1788, vua Càn Long (nhà Thanh, Trung Quốc), thuận theo lời cầu xin của vua Lê Chiêu Thống, bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống vị vua trẻ này về lại Thăng Long. Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế của các văn thần Ngô Thì Nhậm, đã chủ động rút quân về lập phòng tuyến ở Tam Điệp-Biện Sơn cố thủ chờ lệnh.

Lúc bấy Đô đốc Đặng Tiến Đông đang làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa, ngày đêm lo hỗ trợ việc quân vì phòng tuyến trên vốn thuộc địa phận và hải phận do mình cai quản.
Lập đại công

Theo lời kể của GS. Phan Huy Lê, thì ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đã ra đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, nhà vua chia quân ra làm 5 đạo, giao cho Đô đốc Đông chỉ huy một đạo gồm quân voi và quân kỵ mã.

Bắt đầu từ Tam Điệp, Đô đốc Đông cho quân đi theo con đường thượng đạo qua Phố Cát, ra Thiên Quan (Nho Quan, Ninh Bình), xuyên qua Chương Đức (tức Chương Mỹ, quê hương ông), đến làng Nhân Mục rồi rẽ ngang sang Khương Thượng diệt quân Thanh do Sầm Nghi Đống chỉ huy đang đóng tại khu chùa Bộc cạnh Đống Đa (nay là khu phố Đống Đa, thành phố Hà Nội).

Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, bắt đầu lúc canh tư ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu và lúc trời chưa sáng thì đánh hạ được đồn, làm cho viên tướng Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự vẫn ngay tại đài chỉ huy ở Loa Sơn (thuộc khu vực chùa Bộc).

Ngay sau đó, Đô đốc Đông dẫn quân diệt luôn đồn Nam Đồng, rồi tiến nhanh về phía cửa Tây thành Thăng Long. Ở cung Tây Long, Tôn Sĩ Nghị nghe tiếng súng nổ ầm ầm và thấy khói lửa rực trời, vội vàng lên ngựa lẻn qua cầu phao bắt ngang sông Hồng, nhắm hướng Bắc mà chạy.

Văn thần Phan Huy Ích trong Tông đức thế tự bi đã mô tả lại hình ảnh oai hùng của Đô đốc Đông lúc ấy như sau: Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm.

Trưa ngày hôm đó, vua Quang Trung cùng với đại quân tiến vào kinh thành giữa sự đón chào của Đô Đốc Đông và sự hoan nghênh của nhân dân. Bài văn bia trên còn ghi rõ sự ban thưởng của nhà vua đối với ông: Vũ Hoàng Đế vào Thăng Long, tiến hành khen thưởng, ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn, phàm các khoản binh phân, hộ phân, sưu sai đều cho miễn trừ.

Danh sĩ Ngô Ngọc Du, người chứng kiến trận đại thắng trên, đã thuật lại bằng hai bài thơ, đó là bài "Long thành quang phục kỷ thực" (Ghi lại sự thật việc khôi phục thành Thăng Long). Trích phần dịch nghĩa:

    Bọn giặc vì cớ gì mà điên cuồng đến đây?
    Quân của nhà vua phẫn nộ nêu cao uy vũ.
    Rồi thần tốc xông thẳng tới,
    Như từ trên trời giáng xuống, không ai kháng cự nổi.
    Một trận "rồng lửa"[6] làm cho giặc tan tành,
    Chúng bỏ thành cướp đò tìm cách chạy trốn...

Và bài "Loa Sơn điếu cổ" (trích phần dịch nghĩa):

    Thanh Nam xác giặc mười hai đống,
    Ngời sáng anh hùng đại võ công.

Tiếp tục làm quan Tây Sơn

Sau khi đánh tan quân ngoại xâm, Đặng Tiến Đông tiếp tục đảm nhận nhiều nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Tây Sơn. Dưới triều Quang Trung (1788-1792), ông giữ chức Vệ Quốc Thượng Tướng Quân, Trấn thủ hai xứ Thanh Hoa và Nghĩa An (thời Tây Sơn gọi trấn Nghệ An là Nghĩa An hay Trung Đô). Có lẽ ông giữ chức vụ đó từ cuối năm 1787 cho đến đầu năm 1790 (đến năm này vua Quang Trung cử con là Nguyễn Quang Bàn làm Đốc Trấn Thanh Hoa và tướng Trần Quang Diệu làm Đốc Trấn Nghĩa An).

Và theo Tông đức thế tự bi và bài minh do Trần Bá Lãm soạn khắc vào chuông chùa Trăm Gian (thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ) vào năm 1794, thì trong thời vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản, ở ngôi: 1792-1802), Đô đốc Đông giữ chức Đại Tướng Thống Vũ Thắng Vệ Thiên Hùng Hiệu.

Ngoài việc quan ở nơi Đặng Tiến Đông trấn nhậm, ông còn sốt sắng lo việc chiêu tập dân làng trở về quê hương, khai khẩn đất đai, mở mang thôn xóm và chăm lo tu bổ một số đền chùa ở Lương Xá.

Bên cạnh đó, ông còn lo việc biên soạn Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục (6 quyển). Phả này khảo xét dòng họ Đặng và sinh hoạt chính trị nước Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18.

Hiện chưa rõ Đô đốc Đặng Tiến Đông mất năm nào[7], nhưng căn cứ năm lập bia Tông đức thế tự bi để tưởng niệm ông (1797), thì rất có thể ông đã mất trước đó một vài năm tức là vào những năm đầu triều vua Cảnh Thịnh.

Mộ ông táng ở xứ Đồng Trê, nay thuộc thôn Đầm Dền, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hiện ở phía Tây gò Đống Đa (Hà Nội) có một con phố mang tên ông.
Nghi vấn

Người lập đại công chép ở bên trên, chủ yếu soạn theo lời kể của GS. Phan Huy Lê trong bài viết Đô đốc Long-Một tường Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa. Đồng quan điểm này có nhóm tác giả biên soạn sách Đại cương lịch sử Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam(tập 1) và Ngô Thế Long trong bài Một số tư liệu liên quan đến Đô đốc Đặng Tiến Đông đời Tây Sơn...

Tuy nhiên hiện vẫn còn các ý kiến khác:

    Danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) trong sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện cho rằng Đô đốc Long (có sách chép là Đô đốc Mưu) chính là Đặng Văn Long, tự là Tử Vân, quê ở huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (Bình Định). Đồng quan điểm này có Quách Tấn-Quách Giao trong sách Nhà Tây Sơn. Phạm Minh Thảo trong quyển Bắc Bình Vương, Chu Minh Khôi trong bài Những di vật liên quan tới Đô đốc Đặng Tiến Đông ở chùa Trăm Gian...[8]

    GS. Nguyễn Q.Thắng & Nguyễn Bá Thế trong Tự điển nhân vật lịch sử (bộ mới) chép: Dù hiện vẫn còn nhiều tồn nghi về nhân vật lịch sử này, nhưng người dân phường Trường Xuân, thành phố Tam Kỳ vẫn nghĩ đó là Lê Văn Long, người con của quê mình. Ông là con của Thủ tài hầu Lê Văn Thủ, một trong những tướng tài của Tây Sơn. Năm Quang Trung thứ hai (1789), Lê Văn Long được sắc phong là Võ tướng hữu quân tại Phú Xuân. Sắc viết (tạm dịch): Sắc! Sắc phong Lê Văn Long ở xã Phú Xuân Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, người đã trải qua nhiều chiến trận, lắm công lao khó nhọc. Nay bổ giữ chức Võ tướng hữu quân để sai khiến việc quân. Nếu công việc trễ nải, thiếu cần mẫn sẽ theo quân pháp triều đình mà xử lý[9].

    Có người lại cho rằng Đô đốc Long chính là Nguyễn Tăng Long quê ở thôn Đông Thành, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi[10].

Ngoài ra, tuy không cho biết ai là Đô đốc Long, nhưng sau khi phân tích nhà báo Diệp Trúc Thanh đã kết luận rằng Đô đốc Nguyễn Tiến Giản (hay Đông) chỉ là người dẫn quân Tây Sơn ra Thăng Long diệt Nguyễn Hữu Chỉnh vào đầu năm Mậu Thân (1788), chứ phải là người chỉ huy đánh trận Đống Đa vào Tết Kỷ Dậu (1789) [11].

Do những thông tin hãy còn đang trái chiều, nên ai mới thật sự là Đô đốc Long, người chỉ huy đạo quân đánh đồn Khương Thượng (Đống Đa, nay thuộc thành phố Hà Nội), cần phải tìm hiểu thêm.
Thông tin thêm
Đạo sắc

Đạo sắc (sắc phong) có niên đại ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức thứ 10 (15 tháng 8 năm 1787). GS. Phan Huy Lê đã căn cứ lời văn của đạo sắc, mà suy đoán rằng rất có thể trước khi Đặng Tiến Đông đến yết kiến Nguyễn Huệ (1787), ông đã từng làm Trấn thủ Thanh Hoa dưới triều nhà Lê. Cho nên lúc được thu dụng, Nguyễn Huệ đã gia phong chức Đô đốc Đồng tri tước Đông Lĩnh hầu vẫn sai làm trấn thủ xứ Thanh Hoa[12].

Ngoài ra, trong đạo sắc, Nguyễn Huệ còn có đoạn khen ngợi ông như sau:

    ...(ông là người có) khí khái của trượng phu, tấm lòng của nam tử, đường làm quan gặp gỡ, dựng nên công lớn vua tôi, trước sau báo đền, không quên điều hiểu biết của kẻ sĩ trong nước, trải mùa đông mà không chịu khuất như cây tùng lúc giá rét.

Văn bản viết trên giấy sắc, khổ 138×50 cm, hiện do chi trưởng của dòng họ Đặng ở Lương Xá giữ và đặt thờ trên bàn thờ của chi họ này. Đây là một trong số ít nguyên bản sắc phong chức tước đời Tây Sơn còn lưu giữ được cho đến nay.
Bia tưởng niệm

Đây là một bia đá cao 1,72m, bề ngang 0,85m, dày 0,34m; được dựng trước chùa Thủy Lâm ở thôn Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ) vào ngày 15 tháng 6 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ năm, tức ngày 9 tháng 7 năm 1797. Trên bia đá có khắc bài văn bia tưởng niệm Đặng Tiến Đông do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc. Ngoài phần nói về thế phả họ Đặng, có một đoạn ngắn tóm lược công lao, sự nghiệp của ông kể từ khi theo Tây Sơn cho đến khi lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Thanh. Đoạn văn đó như sau (Phiên âm):

    Kim triều đại tướng thống Vũ Thắng đạo Thiên Hùng đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (hay Giản) hệ xuất lệnh tộc giáp nhất chi, Yên quận công chi tôn, Dận quận công chi tử (mất một chữ) thì, Hoàng triều Thái tổ Vũ Hoàng đế nghĩa thanh chấn bạc quy trú Quảng Nam, công nhất kiến quân môn, mật mông tri ngộ, sủng ban ấn kiếm, ủy thống nhung huy. Ngưỡng lại thiên uy, nhất cử đảng định. Mậu thân (2 chữ bị đục) sơ, bắc binh nam mục, công phụng chiếu tiên phong đạo, tiến chiến nhi bắc binh hội. Công đơn kỵ đương tiên, túc thanh cung cấm. Vũ Hoàng giá lâm Thăng Long, sách hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá xã vĩnh vi thực ấp...

    Dịch nghĩa:
    Vị Đại tướng triều ta là Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (hay Giản) thống lĩnh về Thiên Hùng trong đạo Vũ Thắng, xuất thân từ chi thứ nhất một họ lớn, cháu cụ Yên quận công, con cụ Dận quận công… Bấy giờ tiếng tăm nghĩa khí của Thái tổ Vũ Hoàng đế (tức vua Quang Trung) lừng lẫy khắp nơi, ngài đang đóng quân ở Quảng Nam. Ông một lần vào ra mắt trước cửa quân, nhờ ơn tri ngộ, yêu ban ấn kiếm, giao cho cầm quân. Ngửa nhờ oai trời, một lần cất quân là quét sách giặc giã. Năm Mậu Thân...quân Bắc nhòm ngó phương Nam, ông vâng chiếu lãnh đạo tiên phong tiến đánh quân Bắc tan rã. Ông một mình một ngựa đi trước vào dẹp yên cung cấm. Vũ Hoàng đế đến Thăng Long xét công phong thưởng, đặc biệt ban cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn...

Tượng quan Đô

Chùa Trăm Gian (Hà Nội) còn giữ được một bức tượng Đặng Tiến Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là "tượng quan Đô". Bài văn bia Đặng tướng công bi dựng trong chùa năm 1927 và gia phả một số chi họ Đặng cho biết bức tượng tạc vào năm Cảnh Thịnh thứ hai (năm 1794), lúc Đặng Tiến Đông 56 tuổi. Các tài liệu trên cho biết tượng truyền thần này tạc vào lúc ông sinh thời và rất giống ông.

Tượng bằng gỗ mít, cao 1,30m không kể bệ, tạc một võ tướng đội mũ Phốc Đầu đính vàng bạc, mặc áo bào thắt đai, trong tư thế ngồi, hai tay vòng về phía trước. Tượng thể hiện một người có tuổi, dáng cao lớn, vai rộng, khuôn mặt to, mồm hơi dô, môi dày, râu quai nón. Nét mặt trang nghiêm nhưng có vẻ hiền lành, chất phác. Bức tượng đã bị mọt đục ruỗng đôi chỗ và đã bị sơn lại. Đây là một tác phẩm điêu khắc khá đẹp và rất hiếm có của nghệ thuật thời Tây Sơn.
Xem thêm

    Gò Đống Đa
    Chiến thắng Kỷ Dậu (1789)
    Nguyễn Tăng Long
    Lê Văn Long

Chú thích

    ^ Gia tộc họ Đặng ở Lương Xá trước đây có tất cả 9 bộ gia phả, nhưng nay chỉ còn giữ được 3 bộ, đó là: Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục, do Đại đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông biên soạn năm 1792. Đặng gia phả ký tục biên biền thuyết, do Tham đốc Hiển Trung hầu Đặng Đình Quỳnh biên soạn năm 1763 và Đặng thế gia phả ký do nhà báo Đăng Văn Phái, quê ở xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, biên soạn năm 1938.
    ^ Tuy nhiên, có người cho rằng: "Sự thực, "Đặng Tộc Đại Tông Phả" viết năm 1683 do tổng trấn trọng thần Yến Quận Công Đặng Tiến Thự, năm 1686 quốc lão Ứng Quận Công Đặng Đình Tướng tục biên, năm 1745 Thái Nhạc Quận Công tiếp tục tục biên cho biết tổ tiên Đặng Tiến Đông là ngài Đặng Tất (thuộc nhánh Đặng Dung). Chúng tôi - hậu duệ của ngài - cực lực phản đối việc gán ghép ngài có gốc họ Trần. Mong các nhà nghiên cứu về xem bộ gốc Đặng Tộc Đại Tông Phả được trưởng tộc chúng lưu giữ.
    ^ Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1). Nhà xuất bản Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành năm 1992, tr. 345. Thông tin thêm: Sau Nghĩa Quốc Công Đặng Huấn, lần lượt là: Hà Quận Công Đặng Tiến Vinh, Doanh Quận Công Đặng Thế Tài, Yên Quận Công Đặng Tiến Thự, Dận Quận Công Đặng Tiến Cẩm, tức cha Đô đốc Đặng Tiến Đông.
    ^ Tại trang cuối quyển 6 trong bộ gia phả, khi Đặng Tiến Đông viết về cha ông tức Dận quận công, đã giải thích việc đổi tên mình như sau (phiên âm): Mậu Ngọ ngũ nguyệt sơ nhị, Quý Sửu thì, sinh đệ bát tử "Đông" hậu cải "Giản" dĩ tự vựng vân: Trùng âm tích vũ chi hậu hốt kiến nhật sắc, cố tri danh yên. Có nghĩa là: Năm Mậu Ngọ, tháng 5, ngày 2, giờ Quý Sửu, sinh con trai thứ 8 là Đông sau đổi tên Giản theo nghĩa chữ Giản là: Sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt trời, cho nên đặt tên như thế.
    ^ Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1, tr. 750), [1] và [2] đều ghi tên là Đặng Đình Miên. Ở đây ghi theo GS. Phan Huy Lê.
    ^ Phạm Ngọc Du giải thích: "Quân Tây Sơn tiến công thành Thăng Long, nhân dân chín xã ngoại thành sôi nổi bện rơm cỏ thành hình rồng, tẩm dầu đốt lửa, đánh một trận rồng lửa". Đây chính là sự phối hợp rất có hiệu quả giữa nhân dân và nghĩa quân Tây Sơn.
    ^ Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1, tr. 750) cho biết thời Cảnh Thịnh, Đặng Tiến Đông về nghỉ ở quê và mất năm 1803, nhưng không cho biết đã lấy từ nguồn nào. Còn tác giả Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế có dẫn một đoạn chép theo gia phả họ Đặng ở Lương Xá rằng: Vệ quốc thượng tướng quân trấn thủ Thanh Hoa kiêm Nghệ An trấn Đô đốc Đặng Lĩnh hầu Đặng tướng công đại phụ tứ nguyệt thập tốt, hoàng triều Chiêu Thống nguyên niên nhị nguyệt cát hạ phùng tra. Hai tác giả này đã dựa vào đây để cho rằng Đặng Tiến Đông mất vào ngày rằm tháng Tư (theo Hán văn thì là tháng Hai, có lẽ tác giả ghi nhầm) triều Chiêu Thống năm thứ nhất (1787) Đinh vị. Vì vậy, hai ông không cho rằng Đô đốc Đông không phải là người chỉ huy đạo quân Tây Sơn đánh đồn Khương Thượng năm 1789 mà là Lê Văn Long, người làng Trường Xuân, nay thuộc thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 2006, trang 167-168).
    ^ Xem ở đây [3].
    ^ Theo Nguyễn Q.Thắng và Nguyễn Bá Thế, trong Tự điển nhân vật lịch sử (bộ mới). Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, trang 540-541
    ^ Xem thông tin ở Tập san Văn hóa và đời sống, Sở VHTT Quảng Ngãi (số Xuân Quý Dậu, 1993, trang 14-17) hay ở đây [4]
    ^ Theo sử liệu, thì Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị diệt năm 1787. Chép năm Mậu Thân (1788), thì phải ghi là diệt Vũ Văn Nhậm mới đúng. Xem chi tiết tại đây [5].
    ^ GS. Lê giải thích thêm: "Vào thời điểm này Thanh Hoa vẫn thuộc quyền cai quản của nhà Lê. Phải đến cuối năm 1787, khi trấn này thuộc về Tây Sơn, Đô đốc Long mới nhậm chức thực thụ".

Sách tham khảo

    Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập 1). Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1995.
    Phan Huy Lê, Đô đốc Đặng Tiến Đông-một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa. Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 154 (tháng 1 năm 1974).
    Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam (Tập 3). Nxb Giáo dục, 2005.
    Trương Hữu Quýnh-Phan Doãn Đại-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương Lịch sử Việt Nam (Tập 1). Nxb Giáo dục, 2007.
    Nguyễn Lương Bích-Phạm Ngọc Phụng. Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ. Nxb Quân đội Nhân dân, 1977.
    Quách Tấn-Quách Giao, Nhà Tây Sơn. Bảo tàng Quang Trung (Bình Định) xuất bản, 2002.
    Phạm Minh Thảo, Bắc Bình Vương. Nxb VH-TT, 2008.
    Và các nguồn đã ghi kèm theo bài.

Liên kết ngoài

    Đô đốc Long và mùa xuân Thăng Long xưa
    Đặng Tiến Đông trên website Vietgle.

Đặng Đại Độ

Khâm sai tuần hành ngũ phủ, Thạc Đức hầu Đặng Đại Độ (1728-1765) là vị danh thần dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát trong lịch sử Việt Nam.


Tiểu sử

Đặng Đại Độ sinh ra trong một gia đình quan lại lâu đời ở làng Cư Triền, huyện Đăng Phong, phủ Quảng Bình, nay là làng Quảng Cư, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Dòng họ này được Đại Nam Địa dư chí ước biên khen ngợi:

Họ Đặng Đại giữ mình trong sạch
Cha con cùng triều nức tiếng thơm

Thân sinh ông là Kim tử Vinh lộc đại phu, Tuy Lộc hầu Đặng Đại Lược (1690-1764) từng làm việc ở Hàn Lâm viện (Văn Chức viện), Ký lục dinh Bố Chính, Cai bạ dinh Quảng Nam,... Quốc sử quán triều Nguyễn Đại Nam Liệt Truyện cho biết Đặng Đại Lược là người khí tiết, làm quan nổi tiếng thanh liêm nên cảnh nhà nghèo khó. Con ông nhiều người làm quan to: Khâm sai Tham luận Dượng Trực hầu Đặng Đại Kỷ; Liệt Triều Quang Lộc Đại phu, Hàn Lâm viện, Bình Thiệu bá Đặng Đại Đồng; Tri phủ Đặng Đại Lượng,...Trong đó, Thạc Đức hầu Đặng Đại Độ là người nổi bật hơn cả.

Từ nhỏ Đặng Đại Độ "nổi tiếng là người học hạnh". Ông đỗ khóa thi Hương Tiến, học vị cao nhất xứ Đàng Trong lúc bấy giờ và được bổ vào Văn Chức viện. Năm 1748, ông được thăng làm Ký lục dinh Bình Khang.

Năm 1761, người bản địa ở phía tây Quảng Ngãi mà lịch sử gọi là Man Thạch Bích nổi dậy chống lại triều đình. Căn cứ của họ là núi Thạch Bích cao chót vót, vách đá dựng đứng. Đường lên khúc khuỷu cheo leo, phải vượt qua nhiều vực sâu, lam sơn chướng khí trùng trùng. Quân đội của người Man có tổ chức, thiện chiến với lối đánh du kích thoắt ẩn thoắt hiện làm cho quan quân "tưởng thôi lạc phách, nhớ đến kinh hồn"(1). Đặng Đại Độ được lệnh cầm quân đánh dẹp. Nhờ có tài thao lược nên ông đã dẹp tan cuộc nổi dậy của người Man, giữ yên biên cảnh. Sau đó, chúa bổ làm Ký lục dinh Trấn Biên.

Đặng Đại Độ làm quan thanh liêm hiếm thấy: "ai đưa cho cái gì nhất thiết đều từ chối" (2). Người đời tôn kính, khen là "băng thanh ngọc khiết" (3), tức là trong như băng, sạch như ngọc.

Ông là vị quan nổi tiếng công minh, chính trực. Ở những nơi ông làm việc, quan tham và cường hào ác bá không chốn dung thân. Thủ phạm dù là ai cũng được xử lý nghiêm minh theo phép nước. Nhà sử học nổi tiếng, GS Trần Văn Giàu đánh giá Đặng Đại Độ là vị quan "chính trực hiếm hoi"của những năm thuộc nửa sau thế kỷ XVIII. Nhiều câu chuyện ca ngợi khí phách và tài xử án của ông được nhân dân lưu truyền và đi vào sử sách. Trong đó, có lẽ nổi tiếng nhất là sử trạng được Đại Nam liệt truyện chép lại, nội dung như sau:

Có hai viên quan cai đội hầu cận chúa đến Biên Hòa tìm ca nhi đưa về kinh biểu diễn cho chúa xem. Cậy thế là người tâm phúc của chúa nên chúng vô cùng hống hách, làm nhiều điều trái phép. Đặng Đại Độ tiến hành điều tra rồi thăng đường xử án. Với chứng cứ rành rành, chúng phải cúi đầu nhận tội. Yêu dân phải lấy việc trừ cái ác làm đầu, ông ra lệnh giết chúng rồi bêu xác ở cửa chợ Biên Hòa nhằm thị uy những kẻ cậy quyền thế không tuân theo phép nước.

Biết mình xử trọng án vượt quyền thiên tử nên xử xong ông tự mặc áo đơn, đeo gông ngắn, đi bộ về kinh xin nhận tội. Người con đi theo thấy cha dãi nắng dầm sương, muốn thuê võng cáng nên nói:

- Chừng nào về đến kinh đô sẽ hay, còn bây giờ cha nên lên võng mà đi.

Ông nói:

- Lại có hạng tội nhân mong được nhàn hạ ư ?

Đi ròng rã hơn một tháng trời mới về đến kinh đô Phú Xuân. Ông đến Bộ Hình trình bày sự việc rồi xin vào ngục đợi tội. Bộ Hình đem việc tâu lên, xem xét xong chúa cho vời vào. Thấy ông không mang theo triều phục, chúa ban cho mũ áo. Đặng Đại Độ xin chịu tội. Chúa bảo rằng:

- Khanh có tội gì, mà tự lao khổ thế ? Trước kia ta sai đi chọn một vài con hát để tiêu khiển lúc rỗi, không ngờ lũ tiểu nhân đi ra, cậy thế ức hiếp người ! Khanh giết đi là phải. Có tội gì đâu. Vậy bỏ qua việc ấy đi.

Lập tức, chúa thăng Đặng Đại Độ làm Khâm sai tuần hành ngũ phủ (Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận) kiêm Tuần phủ Gia Định, được quyền bãi hay thăng chức quan lại ở sáu phủ trên. Mặc dù trở thành vị đại thần uy danh lừng lẫy nhưng Khâm sai Đặng Đại Độ vẫn rất mực giản dị, khiêm nhường, hết lòng tận tụy với việc nước, việc dân.

Không lâu sau, ông lặng lẽ qua đời lúc mới 37 tuổi. Chúa Nguyễn tiếc thương, ban thụy Trung Cần.

Dù cuộc đời của Khâm sai Đặng Đại Độ đã vĩnh viễn khép gần 250 năm, nhưng khí khái của ông vẫn vang danh trong sử sách và vĩnh tồn trong lòng dân. Trong "Đại lễ kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – Gia Định (1698-1998)", hình ảnh ông được tái hiện trong vỡ diễn "Dũng khí Đặng Đại Độ" đã gây nhiều cảm xúc cho người dân Phương Nam. Vỡ diễn này đã trở thành một những vỡ diễn tiêu biểu của nền sân khấu Việt Nam. Ngày nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,… đã có đường mang tên ông.
Đánh giá

    Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn: "hình tượng Đặng Đại Độ gần với hình tượng Bao Công", "một con người trung trực hiếm thấy trên đời, soi sáng muôn đời"

    Nghệ sỹ Nhân dân Đinh Bằng Phi: "Băng thanh ngọc khiết" (trong như băng, sạch như ngọc)

    Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần: "Vì mục đích an dân, Đặng Đại Độ sẵn sàng nghiêm trị bất cứ một ai dám nhũng nhiễu dân. Thế ra, phép nước nghiêm hay không nghiêm, trước hết đều do ở người thực thi phép nước. Cổ kim vẫn có không ít những vị quan dũng cảm, dám vì công lý mà to gan đụng độ với các đấng quan trên; nhưng nghiêm với chính mình và tự xử chính mình như Đặng Đại Độ, quả thật là rất hiếm. Cuộc đời của ông đã vĩnh viễn khép lại từ lâu, nhưng khí khái của ông thì vĩnh tồn với đất Biên Hòa - Gia Định, với tất cả những ai khao khát quốc thái dân an."[1]
    TS. Đinh Văn Hạnh: "Ba danh nhân Quảng Bình: Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh, Đặng Đại Độ tiêu biểu cho ba thời kỳ khác nhau của quá trình mở cõi. Nguyễn Hữu Hào mang gươm đi mở cõi; Nguyễn Hữu Cảnh xác lập chủ quyền trên vùng đất mới; Đặng Đại Độ an dân để xây dựng một xã hội tốt đẹp trên phần đất cuối trời Nam. Cả ba dũng khí đã thu phục nhân tâm. Họ là những người cả tài đức, lẫn văn võ song toàn đến độ mẫu mực. Có binh hùng tướng mạnh mà không dùng binh, tránh thương vong cho cả hai phía. Tất cả họ có quyền lực mà rất gần gũi với dân, rất mực yêu thương dân; có tầm nhìn chiến lược mà không tham chức tước; công minh, chính trực và thanh liêm đến mẫu mực. Họ mang gươm đi mở cõi nhưng chính nhân tâm hiếu hòa đã để lại cho hậu thế một vùng đất cá tính cùng nhiều bài học vĩnh cửu trong lịch sử phát triển của dân tộc. Với những gì thuộc về tài năng, đức hạnh và cống hiến từ những con người của cùng một vùng đất, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh và Đặng Đại Độ, trong vòng chưa tới 100 năm của thời mở cõi, có thể nói là vô tiền khoáng hậu!"

    Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu: "một trường hợp quan lại chính trực hiếm hoi của những năm thuộc nửa sau thế kỷ XVIII"

    Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần: "Từng nghe, quan tòa xử tội nhân chứ chưa từng nghe quan tòa tự xử quan tòa, thế mà Đặng Đại Độ,…"

    Phan Tâm Duyên: "Hành động cương trực, an dân của Đặng Đại Độ được xem là dũng khí của bậc đại thần, nhân dân ngưỡng mộ và lưu truyền trong lịch sử"

Anh em

Tám anh em trai, bảy người ra làm quan. Nổi bật:

    Khâm sai Tham luận, Dượng Trực hầu Đặng Đại Kỷ
    Liệt Triều Quang Lộc Đại phu, Hàn Lâm viện, Bình Thiệu bá Đặng Đại Đồng
    Tri phủ Đặng Đại Lượng

Tài liệu tham khảo

    Đại Nam liệt truyện - tiền biên, Đặng Đại Độ, Quốc sử quán triều Nguyễn (Viện sử học Việt Nam dịch), NXB Thuận Hóa 2006.
    Đại Nam nhất thống chí – tập 2, Đặng Đại Lược, Quốc sử quán triều Nguyễn (Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch), NXB Thuận Hóa 1993.
    Danh nhân Quảng Bình với quá trình mở cõi đất phương Nam, Hội thảo quốc gia: "Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển", TS. Đinh Văn Hạnh
    Danh thần Quảng Bình, Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo Quốc gia 2013
    Truyện Danh nhân Việt Nam, Khanh có tội gì đâu, Ngô Văn Phú, NXB Công an Nhân dân 2006.
    Trông lại ngàn xưa, GS. Nguyễn Khắc Thuần, NXB Giáo Dục 1997
    Lần giở trước đèn, Đặng Đại Độ, GS. Nguyễn Khắc Thuần, NXB Thanh Niên 2003.
    Dũng khí Đặng Đại Độ, Vũ Ngọc Liễn, báo Bình Định ngày 11/08/1992.
    Danh thần Đặng Đại Độ, Tạp chí Văn hóa Quảng Bình, Nguyễn Hồng Phong, Đặng Đại Thọ
    Khí phách Đặng Đại Độ, Phan Tâm Duyên, báo Đồng Nai ngày 20/08/2008.
    Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn (GS. Nguyễn Khắc Thuần dịch), NXB Giáo Dục 2007.
    Dũng khí Đặng Đại Độ (trang [1-33]), Nghệ sĩ Nhân dân Đinh Bằng Phi
    Văn bia Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm, Huỳnh Ngọc Trảng Thọ
    310 năm Biên Hòa – Đồng Nai (1968 - 2008), Con người của khí phách, Phan Đình Dũng, báo Đồng Nai ngày 26/01/2008.
    Dư địa chí Thừa Thiên Huế - phần Lịch sử, TS Nguyễn Văn Hoa, NXB Khoa học Xã hội 2005.

Chú thích

    ^ Lần giở trước đèn, tr. 195-196.

 
Powered by Blogger