Saturday, January 17, 2015

Giáo dục phòng vệ: 5 đến 12 tuổi



Theo Người Đô Thị
Bùi Văn Nam Sơn

Ta đến với giai đoạn giáo dục trẻ em từ 5 đến 12 tuổi, giai đoạn được Rousseau xem là quan trọng nhất và cũng "nguy hiểm" nhất trong suốt đời người.

Trung thành với quan niệm của mình về giáo dục tự nhiên trong giai đoạn mầm non trước đó, giai đoạn mới này cần được điều chỉnh bằng hai nguyên tắc giáo dục: nền giáo dục mang tính phòng vệ (négative), và việc rèn luyện tinh thần phải từ những hệ quả tự nhiên diễn ra trong đời sống.

Tinh thần chung của giai đoạn này là: hãy để cho trẻ em (5-12 tuổi) chỉ bị lệ thuộc vào sự vật tự nhiên và tuân theo trật tự tự nhiên trong suốt giai đoạn này. Hãy chỉ đơn giản đặt những trở lực tự nhiên trên con đường đi đến những ước muốn của chúng, và hãy để việc "thưởng phạt" nảy sinh từ chính hành động của chúng. Thay cho lề luật, hãy để kinh nghiệm thành công hoặc trải nghiệm thất bại, bất lực "dạy dỗ" chúng. Thỏa mãn những mong muốn của chúng, không phải vì chúng đòi mà vì chúng cần. Không để cho đứa trẻ có ý thức về sự vâng lời khi chúng làm, và ý thức làm "chủ nhân ông" khi được người khác làm cho chúng. Hãy để chúng cảm nhận và trải nghiệm sự tự do trong hành động cũng ngang bằng của ta, những người dạy dỗ chúng.

Ý tưởng tân kỳ ấy đi liền với những chủ trương, biện pháp không kém táo bạo, độc đáo, gây nhiều cảm hứng lẫn tranh cãi cho tới ngày nay.

PHÊ PHÁN KỊCH LIỆT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HIỆN HÀNH

Rousseau hoàn toàn bất tín nhiệm phương pháp thịnh hành lúc bấy giờ. Với hầu hết trẻ em, tuổi thơ là giai đoạn đầy lo âu, sợ hãi trước nhà trường nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn! Thầy giáo cứ nhầm tưởng trẻ em không có niềm vui nào khác ngoài việc đọc, viết và thuộc bài! Thế là tha hồ nhồi nhét theo kiểu học vẹt và "tra tấn" chúng bằng bài tập với vô số những điều bắt chúng phải ghi nhớ. Rousseau cho đó là sai lầm cơ bản: trẻ em chưa có ký ức đúng nghĩa và bài vở suông chẳng có ý nghĩa gì hết!

"SÁCH VỞ ÍCH GÌ ?!"

Đại triết gia, đại văn hào của chúng ta lại cực kỳ dị ứng với... sách: "Tôi ghét sách vì chúng chỉ dạy ta nói về những gì ta không hề biết!". Với ông, nền giáo dục dựa vào sách vở thì chỉ dạy con người làm nô lệ trước quyền uy của người khác. Vì sao? Vì sách chen vào giữa ta và cuộc đời, giữa trẻ em và sự vật. Tri thức học được từ sách vở giành mất chỗ của sự thực hành và tự hình thành chủ kiến, đặc biệt nguy hại nơi trẻ em ở lứa tuổi này. Phải chăng Rousseau chủ trương một đường lối "sư phạm mềm" (soft pedagogy), không "học" gì hết và chơi là chính? Không, ông làm khác hẳn: tháo cởi cái ách trường quy, để thay vào đó gánh nặng không kém: tự xoay xở lấy trong việc tổ chức ăn, ở, mặc!

PHÊ BÌNH CHƯƠNG TRÌNH HỌC CẤP CƠ SỞ

Rousseau không ngần ngại cho cậu bé Émile của ông, trước tuổi 12, không học chữ, học đọc! Ông chỉ mong cậu ta tìm đọc do ngẫu nhiên hay cần thiết. Ngoài tiếng mẹ đẻ, chẳng cần học thêm ngoại ngữ nào (nhất là cổ ngữ!), càng không cần học lịch sử ở giai đoạn này. Vì mấy lý do: trẻ em ở lứa tuổi này, như đã nói, không có trí nhớ đúng nghĩa, nên chưa thể hiểu gì về hành xử của người lớn và nhận định về những hoàn cảnh lịch sử. Thêm vào đó, môn sử kể toàn chuyện chiến tranh, vua chúa, triều đại, với đống số liệu vô hồn và vô bổ, chứ đâu có bàn đến chuyện gì thiết thân với cuộc sống đâu. Mặt khác, môn sử liên quan đến xã hội, nằm ngoài tầm mắt của trẻ em. Vì thế, cần dẹp môn sử ở lứa tuổi này! Ngay môn địa lý cũng còn quá xa vời.

Như thế, Rousseau muốn dẹp hết những môn học truyền thống, thậm chí đòi bỏ cả giáo dục tôn giáo (ngay giữa thế kỷ 18!) với lý lẽ khó mạnh mẽ hơn: trẻ em không nên nghe lời thần thánh trước khi lên 13, "tuổi của lý trí"! Điều gây tranh cãi: Rousseau có cực đoan không khi muốn dẹp cả chuyện cổ tích, chuyện thần tiên? Lý lẽ của ông: chúng truyền đạt những giá trị luân lý cho những cô cậu chưa phải là những chủ thể luân lý!

CHƯƠNG TRÌNH THAY THẾ: HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH

Ta dễ hình dung đề nghị của ông: những hoạt động đến từ nhu cầu thiết thân của đứa bé. Trước hết là chuẩn bị sức khỏe và thể lực: chơi đùa, thể thao để... "bắp thịt trước đã! ". Sau đó, là nhu cầu sinh tồn. Là nhà tự nhiên luận, ông xem trọng nông nghiệp và việc đồng áng, "công việc cao quý nhất của con người". Cho trẻ làm quen với nông cụ và các dụng cụ thủ công: cuốc, thuổng, bào, giũa… Từ đó chúng học cách so sánh, tính toán, đo lường. Biết lượng định khoảng cách, quan sát và vẽ chính xác những gì quan sát được. Nói, hát, số học, hình học không học trong lớp mà trong những hoạt động liên quan đến những hoàn cảnh sống thực tế.

Trước tuổi 12, trẻ em chưa sử dụng lý trí cho bằng học cách giải quyết những nhu cầu đơn giản, qua đó biết trải nghiệm sự yếu ớt và phụ thuộc từ chính sinh hoạt của mình. Ở lứa tuổi tiền-xã hội, tiền-luân lý này, trẻ em chưa biết ý chí của người khác, do đó, không nên bắt chúng phục tùng mệnh lệnh hay trừng phạt. Hãy để tự nhiên dạy cho chúng những điều ấy, từ sự tất yếu chứ chưa phải từ ý thức trách nhiệm hay nghĩa vụ.

GIÁO DỤC PHÒNG VỆ

Nền giáo dục trước nay xuất phát từ quan niệm rằng bản tính người là xấu, nên cần uốn nắn "như đối với cái cây trong vườn nhà". Trẻ em là "người lớn-tập sự", đó là quan niệm của nền giáo dục quý tộc Âu châu từ thế kỷ 18 trở về trước (J. Locke: Một số tư tưởng về giáo dục/ Some Thoughts concerning Education, 1693). Rousseau nghĩ khác, và quyển Émile được xem như một phần đề nghị đối với tác phẩm trên đây của Locke: "Nền giáo dục chủ động (positive) là nhằm đào tạo tinh thần quá sớm và muốn bắt trẻ em phải biết những nghĩa vụ của người lớn. Còn nền giáo dục phòng vệ (negative) là làm cho các cơ quan - phương tiện của nhận thức - được tinh tường trước khi mang lại nhận thức cho chúng. Nền giáo dục phòng vệ không phải là phóng đãng. Nó không mang lại đức hạnh, nhưng ngăn chặn tội lỗi; nó không phô trương chân lý mà ngăn chặn sai lầm. Nó chuẩn bị tất cả cho trẻ em để chúng có thể nhận thức được cái Chân khi đủ năng lực thấu hiểu, và cái Thiện khi có thể biết ái mộ".

Rousseau áp dụng phương pháp này vì nhiều lý lẽ. Trước hết, nó là hệ luận lôgíc từ nguyên tắc "tính người là tốt" ,và bản tính ấy sẽ tự phát huy từ sự thôi thúc bên trong. Bất kỳ sự can thiệp nào vào diễn trình phát huy này đều mang lại sự "bại hoại". Lỗi lầm, tội ác của con người, theo ông, là hậu quả trực tiếp của nền giáo dục mà ta nhận được. Thứ hai, đặc biệt cho giai đoạn giáo dục này, là hệ luận cơ bản được rút ra: phải có sự tương ứng giữa một bên là các nhu cầu với bên kia là các sức mạnh và năng lực của bản thân đứa trẻ. Việc chăm sóc, giúp đỡ của người lớn là không thể thiếu, nhưng chỉ nên dừng lại ở mức thật cần thiết mà thôi.

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 7, 06.03.2014)

Emile: Triết lý giáo dục theo lứa tuổi



Theo Người Đô Thị
Bùi Văn Nam Sơn

Thừa nhận các giai đoạn phát triển không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng xem đó là nguyên tắc sinh tử của giáo dục là chỗ độc đáo của Rousseau, vì ông là người đầu tiên cho thấy ý nghĩa sâu sắc của chúng.

Theo ông, các giai đoạn là khác nhau về chất và về chức năng. Giai đoạn đầu tiên từ khi mới sinh cho đến năm tuổi là giai đoạn sinh vật. Tiếp theo là buổi bình minh của tự-ý thức. Vào tuổi 12, đứa bé đột nhiên có ý thức về mình một cách sâu sắc. Năng lực lý trí và tình cảm trỗi dậy mạnh mẽ. Nhưng đứa bé vẫn còn là một sinh thể cô lập, chưa có được đời sống luân lý đúng nghĩa. Điều này chỉ đạt được ở lứa tuổi dậy thì, với sự chớm nở của đời sống tính dục, yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ cuộc đời của một cá nhân. Đời sống xã hội của cá nhân thực sự bắt đầu với xao động tính dục.

Các giai đoạn ấy là độc lập với nhau trong sự phát triển. Mỗi giai đoạn không được phép xem là phương tiện để đạt đến giai đoạn kế tiếp. Mỗi giai đoạn là một mục đích tự thân, là một cái toàn bộ độc lập, chứ không đơn thuần là bước quá độ sang giai đoạn khác. Mỗi giai đoạn có nhu cầu và ham muốn riêng, hình thành những thói quen phù hợp nhất cho việc tự thực hiện một cách hoàn hảo cuộc sống ở giai đoạn ấy.

Do đó, các nguyên tắc áp dụng cho giai đoạn này không còn đúng nữa cho giai đoạn sau, bởi nhiệm vụ giáo dục là vun bồi những hoạt động và mối quan tâm theo bản tính tự nhiên của đứa trẻ, chứ không phải nhồi nhét cho nó những tập quán và ý tưởng theo quy ước của xã hội.

Tác phẩm Émile, vì thế, được chia làm năm phần. Bốn phần đầu bàn về việc giáo dục cậu bé Émile (giả tưởng) theo bốn giai đoạn: ấu thơ (cho đến 5 tuổi), trẻ con (từ 5 đến 12 tuổi), thiếu niên (12 đến 15 tuổi) và thanh niên (từ 15 đến 20 tuổi). Phần thứ năm dành cho việc giáo dục cô nàng sẽ là người vợ tương lai của Émile. Như thế, công trình bất hủ của ông bao quát dự phóng giáo dục cho nam lẫn nữ từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành. Vì tầm quan trọng đặc biệt của tác phẩm (dài ngót 700 trang!), tuy khó có thể thong thả đi theo ông suốt cuộc hành trình, nhưng vẫn cố gắng ghi nhận những điều cốt lõi.

GIAI ĐOẠN 1: GIÁO DỤC MẦM NON

Steven Cahn, trong Các cơ sở triết học của giáo dục/ The Philosophical Foundations of Education, New York, 1970, dường như xác nhận những nhận định cơ bản hơn hai trăm năm trước của Rousseau về giai đoạn này: "Chúng ta sinh ra với năng lực học tập, nhưng lại không biết gì hết và không phân biệt được gì cả. Tâm trí bị tù túng trong các cơ quan thiếu hoàn hảo, hầu như mới là bán-thành phẩm và thậm chí chưa có ý thức về sự có mặt của chúng. Những cử động, khóc la của trẻ sơ sinh là thuần túy cơ giới, hoàn toàn thiếu vắng hiểu biết và ý muốn.

Những cảm giác đầu tiên của đứa bé là hoàn toàn ở trong lĩnh vực cảm xúc. Chúng chỉ mới biết cảm giác sung sướng và đau đớn mà thôi. Do khả năng đi đứng và nắm bắt chưa phát triển, đứa bé cần thời gian khá lâu mới xây dựng được những cảm giác có tính hình tượng để làm quen với sự vật bên ngoài. Chính việc tái diễn những cảm giác khi sự vật xuất hiện rồi mất đi sẽ buộc đứa bé bắt đầu phục tùng thói quen".

PHƯƠNG PHÁP TỰ NHIÊN TRONG GIÁO DỤC MẦM NON

Giáo dục bắt đầu từ khi sinh ra hay thậm chí trước đó nữa (dù Rousseau không nói rõ về thai giáo), và giai đoạn 5 năm đầu đời chủ yếu nhắm vào việc tăng trưởng của thân thể, các hoạt động thuộc về vận động, tri giác cảm tính và xúc cảm. Rousseau nhấn mạnh đặc biệt đến thiên chức của người mẹ cho con bú bằng sữa mẹ.

Cần phải tôn trọng cá tính của mỗi đứa bé. Thật sai lầm khi muốn ép những tâm hồn khác nhau vào một khôn đúc chung duy nhất. Vấn đề không phải là nhằm biến đổi tư thế tự nhiên của tâm trí mà là ngăn ngừa không để cho nó bị thoái hóa.

Như một tác giả nhận xét: "Học thuyết về những sự dị biệt giữa những cá thể là hết sức cơ bản đối với Rousseau. Ông viết: trong thiên nhiên, con thì cần có cánh, con thì cần có móng. Con người cũng thế, kẻ thì có thể đưa tri thức nhân loại đến biên cương xa nhất, người thì lại mẫn cảm, giỏi tiên liệu những nguy cơ".

Rousseau lên án thói quen đương thời thích bó chặt trẻ mầm non trong lớp áo quần chật chội, ngăn cản sự vận động tự do của thân thể và tay chân. Một mặt, ông muốn giải thoát chúng khỏi áo quần chật chội, mặt khác, chấp nhận tiến trình "khổ luyện" về thể xác! Ngay ở tuổi ấu thơ, việc đương đầu với những thử thách về thể xác là phương pháp phù hợp với tự nhiên. Vì thế, ông bảo: "Hãy quan sát thiên nhiên và làm theo con đường nó vạch ra cho ta. Thiên nhiên luôn kích thích trẻ em hoạt động; nó giúp khổ luyện thân thể bằng đủ mọi kiểu thử thách và sớm dạy cho biết thế nào là sung sướng và đau đớn".

Không nên làm hộ đứa bé những gì tự chúng có thể làm được. Đó là nguyên tắc chủ đạo cho giáo dục mầm non. Cuộc đời là trường tranh đấu để sinh tồn; đó là quy luật sinh học cơ bản nhất, một quy luật mà đứa bé cần tuân theo. Tập đi, tập nói, tập tự xoay xở là những gì cần được phát triển tương ứng với những nhu cầu của bản thân, với sự trợ giúp càng ít càng tốt từ bên ngoài. Rousseau không ưa thuốc men, xem vệ sinh là đức tính hay thói quen tốt hơn là một bộ môn khoa học!

Luân lý và đời sống xã hội, theo ông, là hoàn toàn xa lạ với lứa tuổi mầm non. Tuy nhiên, quãng thời gian từ khi mới sinh cho đến năm 12 tuổi là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm trong đời người. Lý do là vì: thời gian này, những lầm lỗi và thói hư tật xấu bắt đầu nảy mầm. Mọi thói hư tật xấu nơi đứa trẻ phần lớn là vì người lớn đã dại dột nuông chiều chúng quá mức. Khi điều ấy xảy ra, tức là ta đã gieo vào những tâm hồn bé bỏng nọc độc của tính khí thất thường và óc tự cao tự đại về sau.

TIẾN TRÌNH GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN NÀY

Với Rousseau, giáo dục không đến từ bên ngoài mà bắt nguồn từ bên trong. Chính sự phát triển nội tại của những quan năng và cơ quan tạo nên sự giáo dục đích thực của thiên nhiên. Vì thế, giáo dục mầm non thể hiện những hoạt động tự nhiên, tự do, không bị ngăn trở của đứa bé trong quan hệ với môi trường chung quanh. Điều quan trọng là: đứa bé được tạo điều kiện để hoạt động tuân theo nhịp đập từ bên trong và trực tiếp trải nghiệm những kết quả từ chính hành vi của mình. "Cho con nhiều nhu cầu hơn những nhu cầu có ở đứa con, cha mẹ không giảm bớt mà gia tăng sự yếu đuối của nó. (...) Chỉ có kinh nghiệm hoặc sự bất lực mới được là luật lệ đối với trẻ. (...) Cần để nó cảm thấy sự yếu đuối của nó chứ không đau khổ vì sự yếu đuối ấy; cần để nó tùy thuộc chứ không khuất phục; cần để nó yêu cầu chứ không ra lệnh" (Rousseau).

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 18, 13.02.2014)

Hai luận văn của Rousseau: Khai minh về khai minh



Theo Người Đô Thị,
Bùi Văn Nam Sơn

Học thuyết của J. J. Rousseau hình thành từ những trải nghiệm cay đắng và dằn vặt trong bối cảnh xã hội đương thời. Bằng vài nét phác họa, thử dõi theo hành trình tư tưởng của ông dẫn đến "Émile hay là về giáo dục” (1762), cùng năm với "Khế ước xã hội".

LUẬN VĂN THỨ NHẤT (1750)
Những tư tưởng mới của "thế kỷ ánh sáng" (hoan nghênh và tin tưởng vào sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghiệp và thương mãi; sử dụng lý tính để hiểu biết thế giới và hiện đại hóa chính quyền và luật pháp; chống lại mọi hình thức áp bức và kiểm duyệt, tin tưởng vào sự tự do của tư tưởng và công luận) hầu hết bắt nguồn từ nước Anh với Francis Bacon (1561-1626) và John Locke (1632-1704). Nhưng, cuộc đấu tranh cho tư tưởng khai minh ấy lại diễn ra quyết liệt ở Pháp, do các thế lực bảo thủ (nhà thờ và nhà nước bảo hoàng) rất mạnh. Giá phải trả rất đắt: thủ lĩnh phong trào khai minh Pháp là Diderot bị tống giam vào ngục!

Năm 1749, trên đường (lội bộ!) từ Paris đến nhà tù ở Vincennes để thăm Diderot, Rousseau đột nhiên có một "thức nhận" khác lạ. Đó là khi ông vô tình đọc thấy tin Viện Hàn Lâm ở Dijon treo giải cho cuộc thi viết về đề tài: "Phải chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần lành mạnh hóa phong tục?". Ông kể lại: "Đúng giây phút tôi đọc tin ấy, tôi đã thấy một thế giới khác và tôi đã trở thành một con người khác. Đột nhiên lòng tôi ánh lên hàng nghìn tia chớp... Tôi xúc động quá đến nỗi phải ngồi nghỉ dưới gốc cây suốt nửa tiếng đồng hồ, và khi đứng lên, cả vạt áo tôi đã ướt đầm nước mắt!". Và, như ta đã biết, trong trạng thái kích động cao độ, lại được Diderot khích lệ, bài "Luận văn về khoa học và nghệ thuật" đoạt giải của ông đã gây chấn động dư luận, vì ông đã trả lời "không!" cho câu hỏi ấy!

Câu trả lời gây sửng sốt vì ông đã hoài nghi triệt để niềm tin cơ bản của phong trào khai minh rằng lý tính là nguồn gốc của "cái chân" lẫn "cái thiện". Lần đầu tiên, từ trong lòng phong trào khai minh, bằng chính công cụ của khai minh là lý tính, Rousseau phản tỉnh một cách phê phán, hay nói khác đi, tiến hành khai minh về khai minh. Luận điểm trung tâm: cần phê phán các hình thức xã hội nhân tạo và  giả tạo do lý tính con người lập ra vì chúng đã làm tha hóa bản tính sâu xa của con người.

Chính lề thói và quy ước xã hội (nhất là của "cung đình") đã làm cho con người không dám tự thể hiện là chính mình, và trở thành một bầy đàn không tự chủ. Thêm nữa, con người tuy được quy định bởi lý tính nhưng cũng còn bởi "bản tính tự nhiên" nữa. Ông chống lại xã hội đương thời, vì nó dựa vào lý tính để đè nén bản tính tự nhiên, nhưng ông chống lại cũng bằng cách dựa vào lý tính để giải phóng bản tính con người ra khỏi xiềng xích ấy.

LUẬN VĂN THỨ HAI (1754)

Bốn năm sau (1754), Viện Hàn Lâm Dijon lại thông báo một cuộc thi viết khác, với đề tài: "Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên?". Ngụ ý của đề tài: những sự bất bình đẳng xã hội không gì khác hơn là sự thể hiện ra bên ngoài của những sự bất bình đẳng tự nhiên (như chiều cao, sức mạnh...). Chính ẩn ý này làm Rousseau phẫn nộ. Ông thuật lại: "Suốt ngày tôi lang thang trong rừng, hét to cho mình nghe: hỡi bọn người điên khùng không ngừng trách móc tự nhiên kia, hãy biết rằng mọi tội lỗi của các người đều do chính các người gây ra!".

Ta biết rằng một giả thuyết về "bản tính con người" thường là bộ phận không thể thiếu của bất kỳ học thuyết chính trị nào. Xã hội gồm nhiều con người, nên thật dễ hiểu khi phải bắt đầu với việc tìm hiểu cái "vật liệu" tạo nên xã hội. Nhưng, Rousseau có cái nhìn khác với nhiều triết gia xưa nay quen quan niệm về một "bản tính người" ít nhiều cố định (dù "tốt" hoặc "xấu"). Với ông, "bản tính tự nhiên" của con người quá độc đáo, đơn nhất, nên không thể nói về một "bản tính người nói chung". Con người có một lịch sử. Họ đã biến đổi từ trạng thái này (động vật linh trưởng "hồn nhiên vô tội") sang trạng thái khác (con người văn minh, phức tạp ngày nay), tức, cả con người lẫn xã hội đều luôn tiến hóa thành cái gì khác trước, là "mềm dẻo", dễ "uốn nắn" (một quan niệm mới mẻ với nhiều... hệ quả!).

Một vài quan niệm chính yếu của ông:

- "Trạng thái tự nhiên": nếu mọi xã hội đều khác nhau, thì có nghĩa chúng đều giả tạo và không có gì là "tự nhiên" cả. Cũng có nghĩa: con người "tự nhiên" hay "tiền-xã hội" có thể đã tồn tại trong một "trạng thái tự nhiên" rất xa xưa trước khi xã hội và chính trị được thành lập.

- “Pháp quyền tự nhiên”: thường được các nhà tư tưởng rút ra từ bản tính tự nhiên của con người. Rousseau khéo léo không nói về "pháp quyền tự nhiên", vì ông không tin vào một "bản tính tự nhiên" bất biến nào cả. Ông hiểu cách khác: "tự nhiên" là không bị ô nhiễm bởi xã hội giả tạo!

- "Con người tự nhiên": ta không thể biết chính xác "bản lai diện mục" của "con người tự nhiên" hiểu như sự thật lịch sử mà chỉ như giả thuyết nghiên cứu: họ là "tốt" và "hồn nhiên" theo nghĩa thụ động là không làm điều gì nguy hại. Họ chưa có cách hành xử "văn minh" với tư duy lôgíc hay sự hợp tác. Do đó, không thể rút ra những "pháp quyền tự nhiên" từ "bản tính tự nhiên" của họ được.

- "Con người hiện đại và xã hội hiện đại": khí hậu thay đổi, dân số tăng đã tập hợp họ lại thành những bộ lạc, dần định cư, bắt đầu lưu ý đến nhau, và chính sự so bì đã dẫn đến lòng ghen tị, sự bất bình đẳng, sự kiêu ngạo hay quỵ lụy. Vậy, sự bất bình đẳng không phải là "tự nhiên" mà từ những lựa chọn trong quá khứ, được hợp thức hóa bằng những "khế ước xã hội" ranh mãnh của những kẻ khôn ngoan. Quan hệ xã hội trở thành quan hệ chủ nô.

- "Chọn con đường khác!": Rousseau đồng ý với việc dùng "khế ước xã hội" để lý giải nguồn gốc của xã hội và chính quyền, nhưng ông cho rằng "khế ước" như thế luôn sai lầm, và nay không còn hiệu lực ràng buộc nữa. Khác với con vật, con người có năng lực tự giác, và vì thế, là tự do, và, nếu đã có thể biến "trạng thái tự nhiên" thành "trạng thái đồi bại", thì từ nay cũng có thể thay đổi vận mệnh của chính mình. Mọi việc phải và có thể được thay đổi!

"Con người sinh ra tự do, và đâu đâu cũng bị ở trong xiềng xích!"(câu mở đầu nổi tiếng cho quyển Khế ước xã hội (1762)). Nhưng, nếu sự mất tự do không phải do tự nhiên (hay Thượng đế) gây ra thì nó là sản phẩm của chính con người do đã xa rời và tự tha hóa khỏi trạng thái nguyên thủy. Và vậy thì, cũng chính con người phải tự giải phóng chính mình! Không sức mạnh nào ngoài lý tính có thể hàn gắn lại những gì đã đổ vỡ. Thước đo cho điều ấy lại không gì khác hơn là "bản tính tự nhiên". Đó là sự tự do nguyên thủy, không phải bằng lý trí tính toán mà bằng sự thoát ly khỏi sự ô nhiễm của xã hội, với tư cách là tự do của CON NGƯỜI, tức của bất kỳ con người nào, không phân biệt.

Trong tinh thần ấy, "làm lại khế ước xã hội!" là tham vọng của học thuyết chính trị của Rousseau!

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 14, 19.12.2013)

JEAN-JACQUES ROUSSEAU: Đa tài, đa nạn, đa đoan



Theo Người Đô Thị,
Bùi Văn Nam Sơn

Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để... lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở "thời khóa biểu" ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau.

Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để... lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở “thời khóa biểu” ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau. Cả hai quyển đều bị cấm lưu hành và bị hạ lệnh thiêu hủy ngay từ lần xuất bản thứ nhất! Quyển trước đã ảnh hưởng sâu đậm lên tư duy giáo dục hơn bất kỳ tác phẩm nào khác. Quyển sau đã góp phần trực tiếp vào việc lật đổ chế độ chuyên chế, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa hiện đại như chúng ta đều biết. Hai buổi đi dạo bị bỏ lỡ của ông triết gia bên kia bờ sông Rhin (cách nhau 17 năm!) đã nói lên rất nhiều!

Rousseau trọn đời lận đận, nghèo túng và bị truy đuổi, nhưng “hậu vận” khá tốt! Như một lời ghi nhận và biết ơn, năm 1794, vào lúc cao điểm của Cách mạng Pháp, di hài ông được long trọng chuyển vào an nghỉ trong điện Panthéon (Paris) ở vị trí danh dự bên cạnh Voltaire, tác giả luận văn Về sự khoan dung, nhà chiến sĩ dân chủ tiền phong, dù khi sinh thời, hai ông không phải lúc nào cũng hòa thuận với nhau.

Học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục của Rousseau (thường gọi là “thuyết duy nhiên”) không phải là hai bộ phận độc lập mà là một khối thống nhất: triết thuyết giáo dục duy nhiên nhằm đào tạo con người thực hiện lý tưởng chính trị dân chủ. Tuy nhiên, nơi Rousseau, “tính tự nhiên” trong giáo dục và nền “dân chủ” chính trị lại là hai vấn đề không ngừng gây tranh cãi cho đến tận ngày nay! Điều này xảy ra không chỉ vì sự phức tạp của bản thân vấn đề mà do chính những phát biểu hàm hồ, nước đôi trong các tác phẩm của ông, có thể làm đảo lộn và xuyên tạc hoàn toàn ý hướng ban đầu. Về giáo dục, “tính tự nhiên” do ông đề xướng (“hãy để cho đứa bé tự phát triển”) dường như đã giành được thắng lợi hoàn toàn khi “tự nhiên” đồng nghĩa với cái đúng, cái tốt, còn “trái tự nhiên” là sai, là xấu. Nhưng, liệu nền giáo dục triệt để chống quyền uy ấy có thể thực hiện trong môi trường cách ly với xã hội một cách giả tạo, bằng những biện pháp giáo dục có tính lèo lái rất đáng ngờ? Về chính trị, người thì tôn vinh ông là “nhà dân chủ tiên phong”, nhà “dân chủ tự do, tiến bộ”, đồng thời không thiếu người xem ông là “có xu hướng bảo thủ, quyền uy, phản đa nguyên”, thậm chí, là “kẻ đào mồ chôn nền dân chủ”. Tại sao có sự đánh giá mâu thuẫn nhau đến như thế? Việc đưa di hài ông vào điện Panthéon vừa xứng đáng với tầm vóc của ông, vừa không khỏi gợi nên thắc mắc: tại sao lại từ tay Robespierre, thủ lĩnh phái Jacobins khét tiếng độc tài, khát máu trong thời kỳ đại khủng bố của cách mạng Pháp? Và sau cùng, chính cuộc đời ông cũng là hiện thân của một khối mâu thuẫn lớn. Yêu trẻ em, chủ trương “lấy trẻ em làm trung tâm” trong giáo dục, tại sao nỡ giao hết mấy đứa con mình vào trại trẻ mồ côi? Là một trong những khuôn mặt sáng giá nhất của “thế kỷ ánh sáng”, tại sao đi đến chỗ xung đột kịch liệt với Voltaire, đoạn giao với những người bạn lừng danh trong “nhóm Bách khoa thư” như Diderot, d’Alembert... của phong trào khai minh đang lên? Nhận xét của Eugen Fink: “mọi sự vĩ đại đều mang tính nước đôi” tuy không phải lúc nào cũng đúng, nhưng dường như không sai trong trường hợp Rousseau! Khác với những bậc “thánh hiền” thường có hình ảnh toàn bích, Rousseau có lẽ bắt đầu thuộc về một loại hình mới và khác: nhà trí thức hiện đại. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu ông ở cả ba phương diện: cuộc đời, học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục.

CUỘC ĐỜI ĐA NẠN VÀ ĐA ĐOAN

J. J. Rousseau (1712-1778) bất hạnh từ nhỏ. Mẹ mất ngay sau khi sinh. Cha ông, thợ đồng hồ ở Genève, gà trống nuôi con không lâu thì phải bỏ trốn sau một vụ ẩu đả khi ông lên mười. Mười hai tuổi phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề. 16 tuổi, trốn nhà từ Genève lên Turin. Từ đó bắt đầu cuộc đời phiêu bạt, mà những phút giây yên ổn, hạnh phúc là ngoại lệ. Làm đủ thứ chuyện (khoa học, xã hội, nghệ thuật), nhưng chủ yếu độ nhật bằng nghề chép nhạc. Dang díu với nhiều “quý Bà”, cha của năm đứa con, đều gửi hết vào trại mồ côi! Việc làm này gây tổn hại lớn đến thanh danh “nhà giáo dục” của ông, nhất là từ sự công kích của Voltaire. Ông cũng tỏ ra rất đau khổ và nhiều lần biện bạch: cuộc sống quá bấp bênh, không có lối thoát, khó có điều kiện nuôi dạy con cái đàng hoàng (nhưng ông cũng có lúc khá sung túc với người vợ kia mà?).

Năm 1742, ông lên Paris, kết bạn với Diderot và các nhà “Bách khoa thư”. Năm sau, được làm thư ký cho sứ quán Pháp ở Venise, được ủy thác soạn phần nhạc học cho bộ Bách khoa thư, trình diễn được mấy vở nhạc kịch khá thành công. Sau đó, đổ vỡ quan hệ với Diderot và nhóm Bách khoa thư vì bất đồng quan điểm.

1762 là năm quyết định của đời ông: xuất bản một lúc cả hai tác phẩm bất hủ: “Émille” và “Khế ước xã hôi”. Không tán đồng quan niệm về “tội tổ tông” do chủ trương con người “tính bản thiện”, sách bị cấm và lệnh truy nã được ban ra. Ông phải trốn chạy sang Thụy sĩ, rồi ba năm sau lại bị trục xuất và rút về ẩn cư nơi một đảo nhỏ, thời gian hạnh phúc ngắn ngủi vì được đắm mình trong thiên nhiên như sở nguyện. Năm 1766, sang Anh theo lời mời của triết gia David Hume, được dư luận Anh chào đón nhưng lại sớm xích mích với Hume! Suốt bốn năm sau đó, sống lang bạt đầy bất an ở các vùng nông thôn nước Pháp do lệnh truy nã vẫn còn hiệu lực. Mãi đến 1770 mới về lại Paris, tiếp tục viết nhạc độ nhật.

Ta không quên mấy mốc lớn khác trong đời ông:

- 1749: đi bộ từ Paris đến nhà tù Vincennes thăm Diderot đang bị giam cầm, viết Luận văn thứ nhất về các ngành khoa học và nghệ thuật.

- 1754: viết Luận văn thứ hai về nguồn gốc và căn nguyên của sự bất bình đẳng giữa con người. Hai luận văn then chốt, xác lập vị trí riêng biệt của Rousseau trong đấu trường tư tưởng đương thời.

- 1763: chuẩn bị tư liệu cho tác phẩm Tự thú nổi tiếng, một loại tự truyện “tự phơi bày chính mình”, mô phỏng tác phẩm cùng tên của thánh Augustino thời trước.

-  1761, công bố tiểu thuyết dưới hình thức các bức thư: Nàng Heloise mới, mở màn thể loại tiểu thuyết diễm tình ở châu Âu (trong đó có Tình sầu của chàng Werther của Goethe).

- 1774, xuất bản Từ điển thuật ngữ thông dụng trong ngành thực vật học, và, 1776-1778, soạn tập thơ văn xuôi Những giấc mơ của kẻ bộ hành cô độc, tác phẩm lớn cuối cùng, khai mào cho nền văn học lãng mạn.

-  1778, về nghỉ ngơi ở lâu đài Ermenonville theo lời mời của bá tước de Girardin và mất ít lâu sau đó.

Một cuộc đời sóng gió, đầy ắp năng lực sáng tạo và lòng tự tin: “Tôi bắt tay vào một công việc vô tiền khoáng hậu. Tôi muốn cho mọi người thấy một con người tràn đầy mãnh lực tự nhiên, và con người ấy sẽ là chính tôi đây!” (Tự thú).

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 13, 12.12.2013)

Tuesday, January 6, 2015

Phỏng Vấn Ông Đặng Xương Hùng


Phỏng Vấn Ông Đặng Xương Hùng 02/02/2014 Hồng Vân SBTN - Geneva RFI: Lên tiếng trong chương trình « Le grand Genève à chaud » của đài ...

Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève

Cựu lãnh sự Việt Nam xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ

Bài đăng : Thứ hai 03 Tháng Hai 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ hai 03 Tháng Hai 2014 
Theo hãng tin Pháp AFP hôm nay 03/02/2014, trả lời trong chương trình « Le grand Genève à chaud » của đài truyền hình Léman Bleu tối qua, cựu lãnh sự Việt Nam tại Genève, ông Đặng Xương Hùng cho biết đã nộp đơn xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ.

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève từ năm 2008 đến 2012, nói rằng ông đã đến Thụy Sĩ hôm 18/10/2013 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị. Với hành động này, ông tố cáo « sự độc tài » của chế độ Hà Nội, đã « đe dọa và cầm tù » các nhà đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền. Ông hy vọng quyết định này sẽ khiến một số người khác noi theo.


Cựu lãnh sự từng làm việc tại Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 1983 và vừa từ bỏ đảng Cộng sản tuyên bố : « Đất nước chúng tôi đã rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện. Tất cả mọi người đều hy vọng sẽ có thay đổi, nhưng mới đây đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi cách cai trị độc tài và chế độ độc đảng. Cuộc khủng hoảng này là toàn diện vì vừa là khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị, đồng thời còn trong lãnh vực giáo dục và y tế ».

Ông Đặng Xương Hùng đã quyết định hợp tác với phe đối lập Việt Nam, đặc biệt là Ủy ban Thụy Sĩ – Việt Nam (COSUNAM) được thành lập cách đây 25 năm. Tổng thư ký ủy ban này là ông Nguyễn Tăng Lũy cho rằng việc xin tị nạn của ông Đặng Xương Hùng là một « sự kiện đặc biệt », và nói thêm « Phía cuối đường hầm dường như đã cận kề ».

Sự kiện nhà ngoại giao trên xin tị nạn chính trị diễn ra trong lúc Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào ngày 5/2 tới sẽ xem xét tình hình thực hiện các quyền cơ bản tại Việt Nam nhân cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ cập (UPR) diễn ra bốn năm một lần.

Một nhà ngoại giao Việt Nam xin tị nạn chính trị ở Thụy Sĩ

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ.
Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ.





Một nhà ngoại giao từng là lãnh sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Geneva công bố quyết định xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ chỉ vài ngày trước khi phái đoàn của Hà Nội sang đây báo cáo thành tích nhân quyền nhân kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát UPR vào ngày 5/2.

Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ tối 3/2, ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ (2008-2012), nói quyết định của ông là một sự lựa chọn ‘khôn ngoan’ trong cuộc đấu tranh lâu dài vì dân chủ-nhân quyền Việt Nam.

Ông Đặng Xương Hùng: Người Việt nào cũng đau đáu trong tim về lý do Việt Nam rơi vào hoàn cảnh hiện nay: tụt hậu với thế giới, tất cả các mặt trong xã hội đều đi xuống trầm trọng, kinh tế khủng hoảng, tham nhũng, đạo đức xã hội đi xuống. Đó cũng là tất cả những tâm tư của tôi trước khi đi đến quyết định này. Tuy nhiên, đỉnh điểm của nó phải kể đến việc quốc hội vẫn thông qua điều 4 trong bản Hiến pháp sửa đổi, quy định đảng giữ quyền độc tôn lãnh đạo, vốn là nguyên nhân của tất cả các khủng hoảng ở Việt Nam hiện nay. Tôi chọn việc ly khai để thể hiện một thái độ dứt khoát để, thứ nhất, có thể nói lên tiếng nói của mình, và kế đến, cũng có thể là một sự cảnh báo đối với sự lãnh đạo của đảng, để mọi người thấy ngay cả những người trong bộ máy hưởng lợi đấy bây giờ cũng bắt đầu nghĩ đến việc phải nói lên tiếng nói của chính mình, vượt qua nỗi sợ.

VOA: Vì sao ông phải xin tị nạn chính trị sau khi thẳng thắn nêu lên quan điểm của mình trong khi ngay tại Việt Nam hiện nay cũng có rất nhiều những tiếng nói thẳng thắn như vậy vẫn ở lại trong nước?

Ông Đặng Xương Hùng: Tôi nghĩ phải nhìn vào mục tiêu và hiệu quả chứ không phải chỉ để chứng tỏ thái độ của mình. Hiện nay trong nước phong trào đấu tranh dân chủ gặp rất nhiều khó khăn vì sự đàn áp, đe dọa, bắt bớ. Tôi từng nghĩ đến việc tỏ thái độ ở trong nước bằng cách xin về hưu hay về ở ẩn. Tuy nhiên việc đó cũng chỉ dừng lại ở một tiếng nói rất nhỏ.  Tôi muốn đóng góp nhiều hơn nữa cho cuộc đấu tranh chung vì một đất nước Việt Nam dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Tôi chọn cách xin tị nạn chính trị vì ví dụ tôi lên tiếng ở Việt Nam, tôi bị bắt. Cách đó không khôn ngoan bằng cách mình tìm một chỗ nấp an toàn để cuộc đấu tranh của mình được lâu dài và có hiệu quả hơn.

VOA: Ngược lại cũng có ý kiến cho rằng công cuộc đấu tranh cho dân chủ Việt Nam sẽ tiến bộ hơn, đi nhanh hơn nếu nó xuất phát từ chính những người trong nước, những tiếng nói trong nước mới là những tiếng nói có hiệu quả nhất, mạnh mẽ nhất với quốc tế.

Ông Đặng Xương Hùng: Tôi cho rằng mỗi cuộc đấu tranh dân chủ cần 2 yếu tố. Một là sự trỗi dậy từ trong nước, đó là phong trào hiện nay đang mạnh lên. Thứ hai là sự giúp đỡ từ bên ngoài, từ cộng đồng quốc tế. Tình trạng hiện nay Việt Nam bưng bít thông tin, do đó các thông tin ra nước ngoài cũng rất hạn chế. Thế thì tại sao tôi không đóng vai trò làm cầu nối giữa bên trong với bên ngoài. Tôi muốn truyền đạt các thông tin từ thế giới bên ngoài cho đồng bào trong nước biết nhân quyền trên thế giới như thế nào, chúng ta phải được hưởng những quyền như thế nào. Ở ngay nước sở tại, tôi cũng có thể thông tin cho phía bên ngoài biết tình hình hiện nay ở Việt Nam, lấy những thông tin mà nhà nước che dấu đưa ra nước ngoài. Tôi nghĩ tôi có vai trò đó.

VOA: Gần đây ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp như ông đây, những đảng viên cao cấp lâu năm lần lượt chia tay với đảng cộng sản, kêu gọi dân chủ cho Việt Nam. Có người nhận xét đây là một hiện tượng đáng chú ý nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là vài trường hợp số lẻ trong hàng triệu đảng viên trong hàng ngũ đảng hiện nay. Ý kiến ông thế nào?

Ông Đặng Xương Hùng: Những người trong chính quyền đại loại như tôi, bạn bè của tôi cách nghĩ của họ chả khác tôi, có khi còn hơn tôi. Cái chính là vượt qua được nỗi sợ hoặc hoàn cảnh của mình. Ví dụ hoàn cảnh của tôi có thể thuận lợi hơn trong quyết định đó vì vợ con tôi đang ở Thụy Sĩ này. Thế còn một người bạn của tôi trong nước có tư tưởng như tôi thì hầu như sẽ mất hết chứ không được một cái gì cả. Thật ra phải xác định cho mình một giới hạn xấu nhất của hành động của mình. Nếu mình vượt qua được cái đó thì mới chiến thắng được chính mình. Thật ra phải đúng thời điểm nữa, nhiều yếu tố hội tụ cùng một lúc nào đó thì nó mới thúc đẩy anh đi được. Không phải tự tử là dễ đâu. Tự tử phải có một thời điểm nào đó, chứ còn quá thời điểm đó không tự tử được.

VOA: Một giới chức Việt Nam xin tị nạn tại một nước phương Tây. Qua trường hợp của mình, ông muốn nói gì với quốc tế và với chính phủ Việt Nam?

Ông Đặng Xương Hùng: Tôi muốn thế giới biết rằng đó như một lời cảnh báo. Ví dụ ở Campuchea, phải có người chạy ra khỏi chế độ diệt chủng và tuyên bố với thế giới bên ngoài rằng “Chúng tôi đang bị diệt chủng” thì thế giới mới bắt đầu biết đến. Tôi muốn nói với thế giới: “Đấy tình hình Việt Nam hiện giờ là như vậy đấy. Hãy quan tâm hơn nữa để đưa Việt Nam trở lại với cộng đồng quốc tế, với thế giới văn minh, với tương lai tươi sáng hơn.”


Một nhà ngoại giao Việt Nam xin tị nạn chính trị ở Thụy Sĩ


Ông Đặng Xương Hùng bắt đầu làm việc cho Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 1983. Ông cho biết đi đến quyết định xin tị nạn chính trị từ tháng 10 năm ngoái khi ông chính thức tuyên bố ly khai khỏi đảng cộng sản Việt Nam.

Trước khi công bố quyết định xin tị nạn chính trị ở Thụy Sĩ, ông Hùng đã gửi một lá thư ngỏ tới phái đoàn báo cáo UPR của Hà Nội kêu gọi họ thừa nhận sự thật về những vi phạm nhân quyền tệ hại tại Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm các nước và cải thiện.

Giới thiệu một số youtube về Đặng Chí Hùng

Lạc Việt : Đặng chí Hùng là ai? tại sao lại bị bắt ở Bangkok? Xin giới thiệu những video clip của Đặng chí Hùng trên youtube để mọi người hiểu thêm

Phỏng vấn Đặng Chí Hùng

Đặng Chí Hùng nói về hiểm họa mất nước

Đặng Chí Hùng tâm tình với thính giả


















TÓM LƯỢC VỀ NHÀ BÁO ĐẶNG CHÍ HÙNG VÀ TRƯỜNG HỢP BỊ BẮT GIỮ

TÓM LƯỢC VỀ NHÀ BÁO ĐẶNG CHÍ HÙNG

VÀ TRƯỜNG HỢP BỊ BẮT GIỮ
Nhà báo Đặng chí Hùng năm nay 31 tuổi. Mặc dù sinh ra trong một gia đình cả bố và mẹ đều là đảng viên trung kiên của đảng CSVN, nhưng ngay từ nhỏ anh đã có những hoài nghi về chế độ. Năm 1997, lúc đang học lớp 10, anh đã bỏ công tìm đọc nhiều cuốn sách về chiến tranh VN và về ông Hồ Chí Minh. Việc tìm hiểu này được tiếp tục khi anh vào học Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2000. Càng tìm hiểu anh càng thấy mẫu thuẫn giữa những điều sách, báo,loa, đài CS tuyên truyền và thực tế xã hội.
Trong thời gian học đại học, nhờ có khả năng chuyên môn về kỹ thuật, anh đã tự túc bằng nghề sửa máy tính và điện thoại di đông. Tốt nghiệp năm 2006, anh tiếp tục sống bằng nghề này và khá thành công về mặt doanh nghiệp.
Do tham dự các cuộc biểu tình chống Trung Cộng vào các năm 2007, 2008, cơ sở thương mại của anh bị đóng cửa và anh không thể xin việc làm tại các cơ quan công sở. Đồng thời gia đình anh cũng áp lực buộc anh phải thuần phục đảng và nhà nước.
Nhưng thay vì quy thuận, anh đã chuyển qua chống đối bằng ngòi bút với các bài viết phân tách sự tàn hại của đảng CSVN và lột trần mặt nạ của Hồ Chí Minh qua các loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” và “Những sự thật cần phải biết”. Vì vậy công an CS đã truy lùng và bắt hụt anh nhiều lần. Nhưng cũng vì thái độ và hành động chống đối đảng và chế độ, gia đình và vợ con đã xa lánh anh! Từ đầu năm 2010 anh cũng tham gia hoạt động trong phong trào nghiệp đoàn của Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam để giúp đỡ công nhân và dân oan. Các bài viết của anh được quảng bá rộng rãi trên nhiều trang mạng, lôi cuốn đông đảo độc giả khắp năm châu.
Năm 2012, bị áp lực từ gia đình anh phải rời Hà Nội vào Sài Gòn sinh sống. Tại đây anh đã liên lạc và cộng tác với Đài ĐLSN. Vì tình hình an ninh ngày càng tồi tệ, ngày 10 tháng 2, 2013, từ Sài Gòn anh đi theo cửa khẩu Mộc Bài – Tây Ninh đào thoát qua Campuchia . Hai tháng sau, anh đến được Bangkok, Thái Lan.
Tại Bangkok, anh tiếp tục viết bài vạch trần sự thật về chế độ CS. Kể từ tháng 5, 2013, anh cộng tác toàn thời với Đài ĐLSN. Ngoài việc phụ trách một số chuyên mục phát thanh, anh còn giúp thực hiện các công tác nghiên cứu cho Đài và cho Lực Lượng Cứu Quốc. Anh cũng đã nạp đơn xin Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) cho hưởng quy chế tỵ nạn chính trị. Ngày 3 tháng 7, 2013 anh được UNHCR cấp giấy xác nhận hồ sơ của anh đang được xem xét.
Ngày 12 tháng 12, 2013, lực lượng cảnh sát Thái đã vây bắt anh tại nơi trú ngụ, theo yêu cầu của nhà cầm quyền CSVN với lý do anh phạm các tội hình sự tại Việt Nam. Trong nhà giam, cán bộ an ninh CSVN giả danh nhân viên sứ quán đến thẩm vấn anh nhiều lần, trước thì hăm dọa, sau thì dụ dỗ anh ký tên vào biên bản và đồng ý trở về Việt Nam. Anh cương quyết phủ nhận các cáo buộc và không ký tên vào các biên bản do nhân viên CSVN soạn thảo.
Chiều Thứ Sáu, 13 tháng 12 năm 2013, anh bị đưa ra xét xử tại tòa án Ratchada ở Bangkok, về tội cư trú bất hợp pháp ở Thái Lan. Năm giờ chiều cùng ngày cảnh sát chuyển anh đến IDC (Immigration Detention Center), nơi giam giữ người nước ngoài cư trú bất hợp pháp tại Thái.
Chiều Thứ Hai, 16 tháng 12, luật sư của UNHCR đã đến IDC gặp anh. Luật sư do Đài ĐLSN thuê bào chữa cho anh cũng đã tiếp xúc với anh . Việc dẫn độ anh về Việt Nam sẽ không xẩy ra nếu UNHCR cấp cho anh quy chế tỵ nạn chính trị./.

nguồn: tienggoicongdan.com

Vu That

 
Powered by Blogger