Friday, December 26, 2014

Đền thờ Đặng tộc khu vực miền Nam



01 .Nhà thờ chi tộc Đặng mới xây dựng tại Quốc lộ 51, xã Phước Tân, Thành Phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai gốc họ Đặng Quảng Hà, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

02 .Nhà thờ chi tộc Đặng tại 28/1B đường Bàu Cát 9, quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh thờ tổ Đặng Kim Nho gốc tại làng Đông Yên, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

03 .Đại diện Hội Đồng Đặng Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh dự giỗ tại Nhà thờ họ Đặng Ấp I, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh.

04 .Hội Đồng Đặng Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh vể dự giỗ tổ họ Đặng tại ấp Bàu Sim , xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành Phố Hồ Chí Minh.

05 .Nhà thờ tộc Đặng xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành Phố Hồ Chí Minh.

06 .Đại diện Hội Đồng Đặng Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh về dự lễ giỗ Tế Thu tại nhà thờ Đặng Tông Đường thị xã Dĩ An , tỉnh Bình Dương.

07 .Đền thờ ông Cả Đặng Văn Trước tại thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

08 .Đại diện Hội Đồng Đặng Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh dự lễ giỗ tại Đặng Phủ Từ thị trấn Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

09 .Nhà thờ họ Đặng tại Long Phụng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

10 .Nhà thờ họ Đặng tại Phước Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

11 .Lăng mộ Đặng gia trang tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

12.Nam Phương Đặng Tộc Linh Từ tại Long Hưng A, Lấp Vò , Đồng Tháp

13.Nam Phương Đặng Tộc Linh Từ tại Long Hưng A, Lấp Vò , Đồng Tháp ngày 18-3-2011

14 .Đặng Gia Từ Đường tại thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (giỗ tổ ngày 7-6 Âm lịch hằng năm).

15.Nhà thờ họ Đặng ở vùng đất cuối cùng của Tổ Quốc tại xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau

Tiên Hiền Đặng Nghiêm (1170-1236)



Đặng Nghiêm (1170-1236) thường gọi là Tiên hiền Đặng Nghiêm, người khai khoa cho xứ Sơn Nam. Ông là người thôn An Đề - huyện Vũ Thư - Thái Bình, sống vào thời đạo Nho bắt đầu được coi trọng. Ông là người thông minh, ham học. Lúc nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Ông học đâu nhớ đấy nên dù còn ít tuổi đã nổi tiếng uyên thâm, không có sách gì ông không đọc và hiểu biết nghĩa lý tường tận.
Nhà Lý mở nhiều khoa thi Nho học để chọn nhân tài cho đất nước buổi đầu xây dựng nhà nước trung ương tập quyền như khoa thi chọn "Người giỏi thi thư" năm Ất Tỵ niên hiệu Trịnh phù thứ 10 đời vua Lý Cao Tông (1185). Ở khoa thi này chính Tiên Hiền Đặng Nghiêm đã thi đậu và được tuyển chọn vào giảng sách hầu vua. Trong sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam", Đặng Nghiêm được xếp hàng thứ 5 sau bốn vị khách là người các xứ Kinh Bắc, Hải Đông nên ngài là người khai khoa cho xứ Sơn Nam nay gồm các tỉnh: Hà Đông cũ, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình. Các xứ Sơn Tây và vùng Thanh Nghệ cho đến lúc này chưa có người nào đậu Đại khoa cả. Chính vì ngài là người khai khoa cho xứ Sơn Nam nên tỉnh Thái Bình mới lấy tên Đặng Nghiêm đặt tên cho một đường phố rất khang trang ở TP Thái Bình để xây dựng Thái Bình thành một tỉnh "Hiếu học".
"Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam" - Nhà xuất bản Văn học viết rằng: "Tiếng tăm ông vang lừng vượt hẳn các sĩ phu đương thời". "Ông làm quan đến Công bộ Thị Lang". "Ông là người hiển đạt đầu tiên trong tỉnh Nam Định".
Thật ra ông là người khai khoa cho cả xứ Sơn Nam bao gồm các tỉnh: Hà Đông cũ, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định. Ngày nay, qua 800 năm, nhà thờ cổ Đặng Nghiêm ở An Đề - Thư Trì - Thái Bình vẫn được con cháu hương khói phụng thờ.
Theo sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam" thì đến Khoa thi năm Nhâm Thìn niên hiệu Kiến Trung 8 đời Trần Thái Tông (1232) cháu Đặng Nghiêm là Đặng Diễn đậu thứ nhất đệ nhị giáp. Đây là trường hợp đầu tiên ở nước ta, trong một gia đình có hai người đậu đại khoa. Đặng Diễn cũng sống ở An Đề - Vũ Thư. Điều này chứng tỏ gia đình Đặng Nghiêm đã trở thành một vọng tộc đi theo con đường Nho học và hiển đạt từ Khoa cử rất sớm.
Theo "Đặng tộc đại tông phả tự" do Đặng Đôn Thực viết năm Lê Hy Tông nguyên niên (1680) thì Đặng Nghiêm là con út của Đặng Phúc Mãn. Đặng Phúc Mãn vốn quê ở Mạc Xá nay đổi là Lương Xá, được giao chỉ huy một vệ đội để xây dựng hành cung Yên Hưng ở Quảng Ninh. Khi việc xây dựng hành cung hoàn thành, vua Lý đã ban ruộng cho Phúc Mãn ăn lộc ở An Đề - Thị Thư do đó Phúc Mãn mới về An Đề và cùng cụ bà hiệu là Trinh Thuận sinh ra Đặng Nghiêm ở An Đề.
Phả cũng cho biết ngài Đặng Ma La, thám hoa khoa Đinh Mùi - niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình 16 đời Trần Thái Tông (1247) và nhà soạn lịch danh tiếng Đặng Lộ cũng là dòng dõi Đặng Nghiêm và như thế thì anh hùng dân tộc Đặng Tất, Đặng Dung và 4 nhà khoa bảng rất nổi tiếng đời Lê Sơ ở Sơn Vi: Đặng Thiếp, Đặng Tông Củ, Đặng Minh Khiêm, Đặng Tán và 2 vị khác là Đặng Thận, Đặng Điềm ở Lập Thạch cũng là con cháu ngài Đặng Nghiêm.
Người xưa đã từng nhận xét: Họ Đặng là "Nam phương vượng tộc" tức họ Đặng là một dòng họ thịnh vượng ở phương Nam. Quả không sai. Ngày nay họ Đặng sống ở nhiều nơi và đông đảo nhất là họ Đặng ở Thái Bình, họ Đặng ở Chương Mỹ, Hà Tây, họ Đặng ở vùng Can Lộc, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Ngày 20-11-2007, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam kết hợp với Ban lịch sử địa phương, Viện sử học, trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám, Ban liên lạc họ Đặng toàn quốc tổ chức hội thảo khoa học về Đặng Nghiêm tại Bái đường Văn miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội.
Cuộc hội thảo khoa học không những sẽ làm sáng tỏ hơn nữa những đóng góp to lớn của Đặng Nghiêm cho dân tộc, cho đất nước mà còn là dịp để động viên con em Thái Bình hăng say học tập, noi gương bậc tiền bối Đặng Nghiêm, luyện tài rèn đức để phục vụ cho đất nước.
Nhân hội thảo Khoa học về Đặng Nghiêm tại Văn Miếu Quốc Tử Giám: Tiên hiền Đặng Nghiêm, người khai khoa cho xứ Sơn Nam
Nguyễn Văn Thành
(Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam)

Nghĩa khí Đặng Gia

Nghĩa khí của một gia tộc họ Đặng ... Bài viết của TS Đặng Ngọc Sơn (7/2007)


Enlarge this image Click to see fullsize



Enlarge this image Click to see fullsize



Enlarge this image Click to see fullsize

Giới thiệu lịch sử họ Đặng



 Tại mảnh đất này, nơi chúng ta đang Tôn Tượng Thờ Tiền hiền Đặng Nghiêm, cách đây 826 năm, năm At Tỵ niên hiệu Trinh Phù năm thứ 10 (1185) Tiên hiền Đặng Nghiêm đỗ đại khoa lúc mới 15 tuổi. Ngài là người khai khoa đầu tiên cho dòng họ Đặng








Thursday, December 25, 2014

“Giáo dục toàn diện”: Một khao khát khôn nguôi


Theo Người Đô Thị
Bùi Văn Nam Sơn
Dù đồng tình hay phản đối, ý tưởng về một nền giáo dục toàn diện, thống nhất, bao quát vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến ngày nay, và không thể quên kẻ khai sinh ra nó: thuyết duy tâm Đức sau Kant.
"Người Anh yêu tự do như yêu vợ; người Pháp yêu tự do như yêu người tình, còn người Đức yêu tự do như yêu... bà ngoại!". Nhận xét hài hước ấy của thi sĩ Đức Heirich Heine (1828) phản ánh đúng tâm thế của thời đại trước, trong và sau Đại Cách mạng Pháp. Người Anh thụ hưởng nền dân chủ tự do như khí trời, như cơm bữa. Người Pháp cuồng nhiệt đòi tự do dưới ách chuyên chế, sẵn sàng cầm lấy súng gươm giành quyền sống cho mình. Nước Đức, quê hương của "thi sĩ và triết gia" vừa say mê cuộc cách mạng hùng tráng của nước Pháp lân bang, vừa kinh hoàng và e ngại trước sự hỗn loạn hậu cách mạng và sự chém giết bạo tàn và vô nghĩa của những thế lực cực đoan nhân danh cách mạng, đẩy Napoléon lên cầm quyền chuyên chế từ 1799. Nước Đức lại sớm trở thành nạn nhân của Napoléon và hầu như mất hết tất cả sau khi thất trận năm 1807 với hòa ước Tilsit và bị áp đặt những điều khoản bồi thường chiến tranh nghiệt ngã, tương đương mười sáu lần thu nhập thường niên. Đất nước tan nát, dân chúng nghèo kiệt, đồng ruộng bỏ hoang.

Người Đức, trong hoàn cảnh ấy, thấm thía hai điều: - cần thay đổi thế giới (như tấm gương nước Pháp) nhưng không phải thay đổi một cách "phi lý tính" bằng bạo lực mông muội và không kiểm soát được; - những cải cách, đổi mới mang tính tiến bộ của Napoléon (ảnh hưởng đến toàn châu Âu) cần được tiếp thu, nhưng không thể trả giá bằng việc đánh mất sự cố kết dân tộc, tình đoàn kết và sự an ninh. Nếu "tình yêu bà ngoại" gợi nên sự ấm cúng, an toàn, nhưng không đủ độ nóng bỏng để đẩy con người xuống đường, lập chiến lũy, làm cách mạng bạo lực thì giải pháp còn lại là làm... cách mạng tinh thần, bằng giáo dục, đào tạo. Việc các triết gia Đức thời kỳ này được mệnh danh là "những nhà cách mạng Pháp trong lĩnh vực tinh thần" còn do một yêu cầu thực tế: phải "cứu nước" trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Wilhelm von Humboldt (1767-1835), người giữ trọng trách cải tổ giáo dục và là cha đẻ của đại học hiện đại mang tên ông, kêu gọi sự ủng hộ của thủ tướng Hardenberg: "Khi đất nước không may rơi vào tình cảnh rất khác xưa, thì càng cần thiết phải thu hút sự chú ý vào một việc và làm nổi bật một phương diện. Nước Đức từng khuyến khích sự khai minh và khoa học (từ thời Leibniz thế kỳ 17), nay càng cần tăng cường điều ấy để tranh thủ thiện cảm của nước ngoài, và, bằng một cách vô hại về chính trị, đạt cho được một sức mạnh tinh thần ở nước Đức, vì sức mạnh ấy sẽ hết sức quan trọng về nhiều mặt trong tương lai". Nói khác đi, nước Đức phải giương cao ngọn cờ giáo dục và khoa học, phải cường tráng về tinh thần để được lân bang kính nể sau khi chịu bại trận. Mất hết sức mạnh đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để xây dựng sức mạnh từ bên trong! Dù chịu nhiều trở ngại, khó khăn do các thế lực bảo thủ gây ra, chiến lược "cứu nước" của Humboldt đã thành công mỹ mãn, và nước Đức đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất và giàu sức sáng tạo nhất về giáo dục, khoa học, công nghệ suốt thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, tạo cơ sở vững vàng cho nước Đức thống nhất ngày nay.

NHẤT THỂ VÀ TOÀN THỂ

"Nhất thể" và "toàn thể" là tiêu ngữ hay ý niệm dẫn đạo cho tư duy giáo dục thời kỳ này. Dù đồng tình hay phản đối, ý tưởng về một nền giáo dục toàn diện, thống nhất, bao quát vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến ngày nay, và không thể quên kẻ khai sinh ra nó: thuyết duy tâm Đức sau Kant. Mọi lời "lên án" nó là độc đoán, viễn mơ, xa rời thực tế phần lớn bắt nguồn từ những ngộ nhận đáng tiếc. Tuy nhiên, góp phần không nhỏ vào sự ngộ nhận ấy lại chính là do sự phức tạp, trừu tượng và khó hiểu cao độ lẫn không ít những chỗ cực đoan, mâu thuẫn của nền triết học đặc thù này. Trong khuôn khổ giới hạn và phổ thông của Câu chuyện giáo dục, chúng ta chỉ có thể đề cập sơ qua hai chủ đề gắn bó với nhau như hai mặt của một đồng tiền. Trước hết, về tính nhất thể và toàn thể như là động lực và mục tiêu của giáo dục. Và thứ hai là về bản thân khái niệm "giáo dục" hết sức độc đáo và sâu sắc của thuyết duy tâm Đức. Thật thế, hiếm có khái niệm nào trong lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội lại gây nhiều thắc mắc và âm vang như khái niệm "Bildung" trong tiếng Đức, hầu như không thể dịch trọn nghĩa sang tiếng nước ngoài. Từ "education" quen thuộc trong tiếng Anh không phản ánh được nội dung của nó; từ "liberal education" không tát cạn được nội hàm của nó. Từ "formation" có phần sát hợp hơn nhưng vẫn chỉ nói lên được một phương diện. Như ta sẽ thấy "Bildung" (tạm dịch là "đào luyện") sở dĩ khó dịch vì nó gắn liền với tư duy về tính nhất thể và toàn thể của tinh thần, và ta không thể hiểu được nếu không chia sẻ niềm khao khát khôn nguôi của cả trào lưu duy tâm Đức thế kỷ 18 và 19.

"DUY TÂM ĐỨC": MỘT TƯ DUY ĐẦY MÃNH LỰC

"Thuyết Duy tâm Đức" là trào lưu triết học chiếm đỉnh cao suốt 60 năm từ 1770 ( hay có thể từ 1781 với sự ra đời tác phẩm bất hủ "Phê phán lý tính thuần túy" của Kant) đến 1830 (khi Hegel qua đời) và có thể nói là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử triết học tây phương. Trong lĩnh vực văn học, toàn bộ các thời kỳ nổi tiếng như "Bão táp và Xung kích", chủ nghĩa cổ điển" và "chủ nghĩa lãng mạn" cũng thường được xếp chung vào "Duy tâm Đức". Nói thật ngắn gọn, "thuyết duy tâm" hay đúng hơn "thuyết ý niệm", như tên gọi của nó từ thời cổ đại, quan tâm đến những hình thức đời sống "cao hơn", trong đó, thế giới "đích thực" được nắm bắt chủ yếu về mặt "ý niệm", ưu tiên cho thái độ sống "đẹp" (thẩm mỹ), và, bên cạnh đời sống thường ngày, nỗ lực vươn lên chất lượng sống mang tính tinh thần cao hơn.

Trong số những khuôn mặt chủ yếu của thuyết duy tâm Đức phải kể đến Kant và các triết gia sau Kant: Johann Gottlieb Fichte (1762-1814), người công tác với W. Humboldt trong đề án cải cách giáo dục, Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775-1854), Georg Wilhelm Friederich Hegel (1770-1831) và cả thi sĩ Fridrich Hölderlin (1770-1843). Tất cả họ, mỗi người theo cách riêng của mình, đều ra sức "xử lý" di sản khổng lồ do tiền bối I. Kant để lại: dù ngưỡng mộ hay được kích thích, gợi hứng, họ tìm cách "hoàn thiện" hoặc "vượt qua" Kant, với cao vọng không mấy khiêm tốn và thận trọng! Rồi bản thân mỗi người cũng tìm càch "vượt qua" người đi trước, với vô số những giải pháp khác nhau, tạo nên quang cảnh sinh động và náo nhiệt chưa từng có trong đời sống tư tưởng trước nay, mang lại cho tư duy triết học nói chung và tư duy triết học giáo dục nói riêng những ý tưởng và đường hướng được xem là sâu sắc nhất và cũng gây tranh cãi nhiều nhất. Tinh thần Hiện đại về văn hóa quả thật đã được khai sinh trong diễn ngôn "khai minh" và "lãng mạn" này, khi nó mạnh mẽ khẳng định và bảo vệ sự "tự do chủ quan" của con người "hiện đại".

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 27, 31.07.2014)

Rousseau: Copernicus trong giáo dục


Theo Người Đô Thị
Bùi Văn Nam Sơn
"Không có sự thay đổi nào giàu tính cách mạng hơn thế. Giống như Copernicus đã phá hủy vũ trụ học Trung cổ, Rousseau đã đặt dấu chấm hết cho các quan niệm cổ truyền về trẻ em, bằng cách cho thấy rằng trẻ em là một tạo vật của thiên nhiên, hoạt động và lớn mạnh hòa điệu với quy luật của thiên nhiên".
Đó là nhận định của Frederick Eby (Sự phát triển của giáo dục hiện đại/The Development of Modern Education, 1964) về triết thuyết giáo dục của Rousseau. Thật thế, suốt bao thế kỷ, lý thuyết và thực hành giáo dục được xác lập từ thế đứng và lợi ích của xã hội người lớn. Không ai có thể nghĩ từ một quan điểm nào khác!

LẤY TRẺ EM LÀM TRUNG TÂM

Trong bài giới thiệu kiệt tác "Émile hay về giáo dục" của Rousseau qua bản dịch tuyệt vời của hai dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương (NXB Tri Thức 2008, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2009), chúng tôi có viết: "Bước ngoặt trong tư duy giáo dục được thể hiện dày đặc trong từng trang sách khiến người đọc dường như luôn cảm thấy muốn dừng lại, dùng bút để gạch dưới hay tô đậm hàng loạt những câu đặc sắc! Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng như Rousseau là người sống đồng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu và bất bình của những người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một nền giáo dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp sư phạm với mọi hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái. Ta hãy thử nghe ông nói: "chúng ta xót thương cho số phận của tuổi thơ, thế nhưng chính số phận chúng ta mới cần xót thương! Những nỗi đau lớn nhất của chúng ta là do chúng ta mà ra". Vì đâu nên nỗi? Vì "người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng sai lầm của ta về tuổi thơ thì càng đi càng lạc lối (...) Họ luôn tìm kiếm người lớn trong đứa trẻ mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn". Nói cách khác, đó là nền giáo dục không hề "nhìn rõ chủ thể mà trên đó ta cần thao tác. Vậy xin các vị hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ hơn các học trò của mình". Và cũng vì không hiểu rõ "chủ thể" của giáo dục là người học nên người lớn tha hồ sử dụng phương pháp áp đặt: "thay vì giúp ta tìm ra các chứng minh, người ta đọc cho ta viết các chứng minh ấy; thay vì dạy ta lập luận, ông thầy lập luận hộ ta và chỉ rèn luyện trí nhớ của ta thôi". Trong khi đó, đúng ra "vấn đề không phải là dạy các môn khoa học, mà là đem lại hứng thú để yêu khoa học và đem lại phương pháp để học những môn đó, khi hứng thú này phát triển hơn lên. Chắc chắn đó là nguyên lý cơ bản của bất kỳ nền giáo dục tốt nào".

Thiếu các nguyên lý đúng đắn dẫn đạo, ta chỉ tạo ra những con người "được gia công", vừa được nuông chiều quá đáng trong vòng tay cha mẹ, vừa bị kiềm tỏa dưới mái nhà trường: "Những ý tưởng đầu tiên của trẻ là những ý tưởng về quyền lực và khuất phục! Nó hạ lệnh trước khi biết nói, nó vâng theo trước khi có thể hành động, và đôi khi người ta trừng phạt nó trước khi nó có thể biết lỗi, hay nói đúng hơn là có thể phạm lỗi. Như vậy là người ta sớm rót vào trái tim non nớt của nó những đam mê mà sau đó người ta quy tội cho tự nhiên, và  sau khi đã nhọc công làm cho nó thành tai ác, người ta lại phàn nàn vì thấy nó tai ác!". Sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục áp đặt như thế thật đáng sợ: ... "vừa là nô lệ vừa là bạo chúa, đầy kiến thức và thiếu lương tri, yếu đuối bạc nhược về thể chất cũng như tâm hồn, và bị quẳng vào xã hội"...

Đóng góp lớn của Rousseau là vạch rõ sự sai lầm của quan niệm xem đứa trẻ là “người lớn thu nhỏ”, và tiến trình giáo dục không gì khác hơn là "gia tăng" kích thước của thể xác và trữ lượng của kiến thức! Người ta kỳ vọng trẻ em hiểu những chủ đề và quan tâm những ý tưởng giống hệt như người lớn. Chúng bị buộc phải tập tành những quy củ của đời sống xã hội và những chuẩn mực đạo đức của người lớn. Vì thế, theo ông, phải làm ngược lại! Nếu trẻ em phải trở thành trung tâm của giáo dục, thì giảng dạy không còn là nhồi nhét kiến thức mà là cung cấp những cơ hội để "vận hành" những hoạt động mang tính tự nhiên đối với từng lứa tuổi và từng giai đoạn.

Vấn đề khác của quan niệm cổ truyền là thói quen đặt lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Đứa trẻ được huấn luyện để thích hợp với xã hội hiện tồn. Cá nhân bị hy sinh cho yêu cầu của xã hội. Rousseau rất phẫn nộ trước điều này, vì, theo ông, tính thiện và hạnh phúc của cá nhân là thiết yếu hơn nhiều so với việc phát triển tài năng nhằm phục vụ cho xã hội! Đặt nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân lên trên xã hội có tổ chức, Rousseau đã đảo lộn trật tự cố hữu. Trái tim của triết thuyết giáo dục Rousseau là tìm hiểu bản tính tự nhiên của trẻ em Nguyên tắc của triết thuyết ấy là phải hiểu những gì bản thân tự nhiên phát triển trong đứa trẻ.

MỤC ĐÍCH TỐI HẬU CỦA GIÁO DỤC

Mục tiêu tối hậu của Rousseau là bảo tồn cái thiên chân và những đức tính tốt đẹp của con tim và của xã hội hài hòa với những đức tính ấy. Trong thiên nhiên, Rousseau thấy trật tự, hài hòa và vẻ đẹp. Trong đời sống con người, ngược lại, đầy rẫy những xấu xa, đê tiện, xung đột và nghèo đói. Chính sự tương phản giữa hai thế giới này dẫn đến những tệ trạng cho xã hội và cho nền giáo dục. "Cứu cánh tối cao phải đạt được là một xã hội trong đó những đức tính cao thượng cơ bản như dũng cảm, kiên trì, điều độ, bình đẳng, bác ái, giản dị và tự do... phải được thực hiện".

Thật ra, Rousseau không hề chống lại đời sống xã hội, trái lại, như đã thấy, ông tha thiết mong mỏi cá nhân có thể toàn tâm toàn ý đi vào cuộc sống chung trong tình nhân loại đích thực.

Vì thế, trước thực trạng khắc nghiệt, ông thấy cần thiết phải phác họa hai hệ thống giáo dục khác biệt triệt để với nhau: một hệ thống giáo dục chủ động dành cho một xã hội tốt đẹp, hợp tự nhiên; và một hệ thống giáo dục phòng vệ dành cho xã hội "văn minh" đang thịnh hành.

"Émile hay về giáo dục" sẽ làm công việc ấy. Một việc làm vừa mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít nghịch lý, cực đoan như bản thân cuộc đời và toàn bộ học thuyết của ông. Nó là một "thử nghiệm tư duy" kiệt xuất, "khiêu khích" và buộc ta phải suy nghĩ hơn là quá "trơn tru" như một "đề án" được cắt gọt để dễ được thông qua và mọi người nhắm mắt làm theo!

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 16, 02.01.2014)

“Cận nhân tình”: Khởi điểm của giáo dục hiện đại


Theo Người Đô Thị
Bùi Văn Nam Sơn

Thomas Aquino (1225-1274)
Hầu như ai cũng đồng ý rằng tư duy giáo dục hiện đại thật sự bắt đầu từ J. J. Rousseau, nhưng rõ ràng không phải là một sự bắt đầu đột ngột. Như nhiều cuộc "cách mạng" trong tư duy, nó là cao điểm của một quá trình được chuẩn bị lâu dài.
THOMAS AQUINO: TỪ LÝ TÍNH TỰ NHIÊN ĐẾN QUYỀN TỰ NHIÊN

Thomas Aquino (1225-1274), nhà thần học và nhà tư tưởng lớn nhất và có hệ thống nhất của kinh viện học thịnh thời, xem giáo dục là phương cách cơ bản nhất của đời sống tinh thần. Dưới dạng đối thoại, bộ "Tổng luận thần học" của ông hướng trực tiếp đến người đọc, được tiếp nhận nồng nhiệt, vì ông không muốn "rao giảng" mà muốn khêu gợi sự ngạc nhiên và tra hỏi.

Trước hết là một thái độ khiêm tốn: ông không giữ tư thế của người thấy mình có trọng trách với sự an nguy của... vũ trụ, bởi đó là sự nhận thức và an bài của Thượng đế! Theo ông, không thể có thế giới nào là tốt nhất, vì lẽ đơn giản là ta không làm sao biết được điều gì là tốt nhất cho thế giới. Là vật thụ tạo, ta chỉ biết những cái tốt đặc thù, phù hợp với bản tính của mình thôi. Cái tốt đặc thù nói lên trách nhiệm của con người hành động trong vai trò riêng biệt của họ trong bối cảnh xã hội. Chẳng hạn, người con thì tìm mọi cách che giấu cho người cha phạm tội trước sự trừng phạt của pháp luật vì tình cốt nhục và tình yêu gia đình. Ngược lại, quan tòa, vì lợi ích chung của xã hội, lại tìm cách bắt giữ và trừng phạt người phạm tội cho kỳ được. Ông nghĩ sao về chủ trương của Platon: người công chính thì không được che giấu tội phạm trong mọi trường hợp? Ông dứt khoát không chấp nhận, vì cho rằng quan niệm ấy quá "phổ quát" đến mức bất cận nhân tình. Như vậy, ta không nên suy nghĩ về đạo đức đơn thuần và lạnh lùng từ quan niệm về sự tự trị của lý trí mà nên như cái gì phù hợp với bản tính tự nhiên và hoàn cảnh của con người. Con người không chỉ là một sinh vật có lý trí, mà còn có xương có thịt thuộc về một loại người nhất định nào đó. Và vì thế, hành động cũng thuộc nhiều loại khác nhau: ngộ sát hay giết người vì tự vệ khác với mưu sát; cướp bóc khác với trộm cắp thông thường…

Tuy nhiên, việc dành một không gian cho bản tính tự nhiên và hoàn cảnh luôn có giới hạn của nó, và không thể làm cho những nguyên lý cơ bản trở nên hoàn toàn tương đối. Theo ông, ít nhất có bốn "mệnh lệnh" cơ bản mà không ai được chà đạp: bảo vệ mạng sống của con người và sự sinh tồn của nhân loại; tôn trọng những quyền có tính sinh vật: sinh sản và dưỡng dục con cái; trách nhiệm đối với xã hội; tăng tiến về trí tuệ và tâm linh. Chính "ánh sáng tự nhiên của lý trí" (lumen naturale) dẫn ta đến những luật tự nhiên và hằng cửu (lex naturalis, aeterna) ấy, và, tuy là tự nhiên, lại gián tiếp cho thấy ý nghĩa và ánh sáng siêu nhiên (lumen supernaturale) của chúng. Với tư cách ấy, chúng là thước đo cho mọi phong tục, tập quán riêng tư cũng như công cộng, độc lập với mọi dị biệt tín ngưỡng, chính trị hay địa lý. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, quan niệm của ông về tính có-điều kiện của những luật lệ địa phương (ius civile) như là điều kiện cần, và về tính vô-điều kiện của quyền tự nhiên có giá trị toàn cầu (ius gentium) như là điều kiện đủ cho một nhân loại phổ quát trở nên có tính thời sự hơn bao giờ hết. (Xem thêm cuộc tranh luận về sự thiếu chính đáng của cái gọi là "những giá trị châu Á" trong Jacobson. M và O. Bruun: Human rights and Asian values, London, Routledge, 2000).

MARTIN LUTHER: ĐÀNG SAU VẺ KHẮC NGHỊ CỦA… "CON NGƯỜI MỚI"

Martin Luther (1483-1546), cha đẻ của phong trào Cải cách (tôn giáo) đầy mãnh lực, phân tích thẳng thừng mọi hình thức hoạt động của con người, đi đến kết quả thật trần trụi: không có hành vi nào không từ động cơ vị kỷ và kiêu mạn! Sau khi "vạch trần" không thương tiếc chân tướng của con người, ông chia con người thành hai loại: con người cũ và con người mới. "Con người cũ" có thể chia tiếp thành ba loại. Ở trạng thái tự nhiên, mông muội (kể cả đến ngày nay!), sống theo bản năng sinh vật, dù nghèo hay giàu. Ở trạng thái đã được xã hội hóa, thì tin vào sự tự trị của con người, không thấy sự hữu hạn và giới hạn của chính mình. Loại thứ ba là những kẻ đạo đức giả, chỉ bịp đời và bịp chính mình. Nói chung, "con người cũ" xem mình là thành quả của chính mình, là kẻ sáng tạo nên chính mình, tự biến mình thành ngẫu tượng của chính mình!

Ngược hẳn lại, "con người mới" nhận thức rằng thân xác của mình là quà tặng của đấng sáng tạo, vì thế, phải trở thành kẻ gìn giữ và "điều tiết” nó. Con người "mới" không dùng trí tuệ và tài năng để tự tôn vinh mình mà để phục vụ cho "người bên cạnh mình", nhận ra chỗ bất toàn để không ngừng phấn đấu. Ta thấy gì đàng sau vẻ khắc nghị ấy?

Trước hết, sự thay đổi "tâm thức" này không nằm trong quyền năng của con người riêng lẽ và cả của nhà giáo dục, mà là "sự giáo dục của đấng sáng tạo". Nhà giáo dục chỉ là kẻ trợ giáo cho một kế hoạch thiêng liêng, chứ không có ảnh hưởng quyết định. Giáo dục khoa học và đạo đức là trọng tâm để chuyển hóa tâm thức, còn mọi việc khác không thuộc quyền năng của mình. Ngay trong giáo dục con cái cũng từ bỏ thói quen uốn nắn đứa trẻ yếu đuối theo quyền uy của cha mẹ, trái lại, vừa yêu thương vừa dẫn dắt nó trong tư cách của một kẻ trợ giáo mang tinh thần phục vụ một sinh thể tự do - một tư tưởng sẽ hồi sinh rực rỡ nơi John Dewey và Montessori sau này!

Quyền giáo dục trở thành trách nhiệm phục vụ, một bước ngoặt không hề nhỏ trong tư duy giáo dục!

VOLTAIRE VÀ SỰ KHOAN DUNG

Một vụ án chấn động ở Toulouse (Pháp) năm 1762: người cha, theo Tin lành, bị hành quyết do đám đông theo Công giáo cuồng tín vu oan đã hạ sát người con trai muốn cải đạo từ Tin Lành sang Công giáo! Một nghịch lý khủng khiếp: tư tưởng đầy khoan dung "yêu thương cả kẻ thù của mình" tại sao có thể trở nên vô hiệu bởi sự cuồng tín? Nguyên nhân thật dễ phát hiện: ngay cả lý tưởng cao đẹp nhất lúc ban đầu cũng có thể thoái hóa khi có quyền lực, nhất là khi quyền lực được định chế hóa và bị đồng nhất hóa với quyền lực nhà nước (mất sự thống nhất của đức tin cũng có nghĩa là mất sự thống nhất của nhà nước!). Sự khoan dung (chấp nhận ý kiến khác với cả sự mâu thuẫn của nó: chịu đựng được sự yếu đuối của người khác và tôn trọng những niềm tin khác) thực ra đã từng bước được phục hồi qua tiến trình giải phóng con người cá nhân trong thời Phục Hưng và Cải cách (tôn giáo) nay trở nên cấp bách qua vụ án chấn động này. Luận văn "Về sự khoan dung" nảy lửa và thống thiết của Voltaire nhân vụ oan án này đã làm nên lịch sử: sự khoan dung, từ nay, trở thành một giá trị đạo đức tự thân, một nguyên tắc điều hướng cho lý trí trưởng thành, trong đêm trước của Đại Cách mạng Pháp.

Luận văn lừng danh ấy của Voltaire được công bố năm 1763, một năm sau vụ án và sau tác phẩm "Emille hay là về giáo dục" của Rousseau (1762) như là những bước chuẩn bị chật vật cho một cuộc cách mạng trong tư tưởng giáo dục.


Bất đồng là căn bệnh nặng của nhân loại. Khoan dung là phương thuốc duy nhất!
 Voltaire

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 12, 05.12.2013)

 
Powered by Blogger