"Người
Anh yêu tự do như yêu vợ; người Pháp yêu tự do như yêu người tình, còn
người Đức yêu tự do như yêu... bà ngoại!". Nhận xét hài hước ấy của thi
sĩ Đức Heirich Heine (1828) phản ánh đúng tâm thế của thời đại trước,
trong và sau Đại Cách mạng Pháp. Người Anh thụ hưởng nền dân chủ tự do
như khí trời, như cơm bữa. Người Pháp cuồng nhiệt đòi tự do dưới ách
chuyên chế, sẵn sàng cầm lấy súng gươm giành quyền sống cho mình. Nước
Đức, quê hương của "thi sĩ và triết gia" vừa say mê cuộc cách mạng hùng
tráng của nước Pháp lân bang, vừa kinh hoàng và e ngại trước sự hỗn loạn
hậu cách mạng và sự chém giết bạo tàn và vô nghĩa của những thế lực cực
đoan nhân danh cách mạng, đẩy Napoléon lên cầm quyền chuyên chế từ
1799. Nước Đức lại sớm trở thành nạn nhân của Napoléon và hầu như mất
hết tất cả sau khi thất trận năm 1807 với hòa ước Tilsit và bị áp đặt
những điều khoản bồi thường chiến tranh nghiệt ngã, tương đương mười sáu
lần thu nhập thường niên. Đất nước tan nát, dân chúng nghèo kiệt, đồng
ruộng bỏ hoang.
Người Đức,
trong hoàn cảnh ấy, thấm thía hai điều: - cần thay đổi thế giới (như tấm
gương nước Pháp) nhưng không phải thay đổi một cách "phi lý tính" bằng
bạo lực mông muội và không kiểm soát được; - những cải cách, đổi mới
mang tính tiến bộ của Napoléon (ảnh hưởng đến toàn châu Âu) cần được
tiếp thu, nhưng không thể trả giá bằng việc đánh mất sự cố kết dân tộc,
tình đoàn kết và sự an ninh. Nếu "tình yêu bà ngoại" gợi nên sự ấm cúng,
an toàn, nhưng không đủ độ nóng bỏng để đẩy con người xuống đường, lập
chiến lũy, làm cách mạng bạo lực thì giải pháp còn lại là làm... cách
mạng tinh thần, bằng giáo dục, đào tạo. Việc các triết gia Đức thời kỳ
này được mệnh danh là "những nhà cách mạng Pháp trong lĩnh vực tinh
thần" còn do một yêu cầu thực tế: phải "cứu nước" trong hoàn cảnh nghiệt
ngã. Wilhelm von Humboldt (1767-1835), người giữ trọng trách cải tổ
giáo dục và là cha đẻ của đại học hiện đại mang tên ông, kêu gọi sự ủng
hộ của thủ tướng Hardenberg: "Khi đất nước không may rơi vào tình cảnh
rất khác xưa, thì càng cần thiết phải thu hút sự chú ý vào một việc và
làm nổi bật một phương diện. Nước Đức từng khuyến khích sự khai minh và
khoa học (từ thời Leibniz thế kỳ 17), nay càng cần tăng cường điều ấy để
tranh thủ thiện cảm của nước ngoài, và, bằng một cách vô hại về chính
trị, đạt cho được một sức mạnh tinh thần ở nước Đức, vì sức mạnh ấy sẽ
hết sức quan trọng về nhiều mặt trong tương lai". Nói khác đi, nước Đức
phải giương cao ngọn cờ giáo dục và khoa học, phải cường tráng về tinh
thần để được lân bang kính nể sau khi chịu bại trận. Mất hết sức mạnh
đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để xây dựng sức mạnh từ bên
trong! Dù chịu nhiều trở ngại, khó khăn do các thế lực bảo thủ gây ra,
chiến lược "cứu nước" của Humboldt đã thành công mỹ mãn, và nước Đức đã
trở thành quốc gia hùng mạnh nhất và giàu sức sáng tạo nhất về giáo dục,
khoa học, công nghệ suốt thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, tạo cơ sở vững
vàng cho nước Đức thống nhất ngày nay.
NHẤT THỂ VÀ TOÀN THỂ
"Nhất
thể" và "toàn thể" là tiêu ngữ hay ý niệm dẫn đạo cho tư duy giáo dục
thời kỳ này. Dù đồng tình hay phản đối, ý tưởng về một nền giáo dục toàn
diện, thống nhất, bao quát vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến ngày nay, và
không thể quên kẻ khai sinh ra nó: thuyết duy tâm Đức sau Kant. Mọi lời
"lên án" nó là độc đoán, viễn mơ, xa rời thực tế phần lớn bắt nguồn từ
những ngộ nhận đáng tiếc. Tuy nhiên, góp phần không nhỏ vào sự ngộ nhận
ấy lại chính là do sự phức tạp, trừu tượng và khó hiểu cao độ lẫn không
ít những chỗ cực đoan, mâu thuẫn của nền triết học đặc thù này. Trong
khuôn khổ giới hạn và phổ thông của Câu chuyện giáo dục, chúng
ta chỉ có thể đề cập sơ qua hai chủ đề gắn bó với nhau như hai mặt của
một đồng tiền. Trước hết, về tính nhất thể và toàn thể như là động lực
và mục tiêu của giáo dục. Và thứ hai là về bản thân khái niệm "giáo dục"
hết sức độc đáo và sâu sắc của thuyết duy tâm Đức. Thật thế, hiếm có
khái niệm nào trong lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội lại gây nhiều
thắc mắc và âm vang như khái niệm "Bildung" trong tiếng Đức, hầu như
không thể dịch trọn nghĩa sang tiếng nước ngoài. Từ "education" quen
thuộc trong tiếng Anh không phản ánh được nội dung của nó; từ "liberal
education" không tát cạn được nội hàm của nó. Từ "formation" có phần sát
hợp hơn nhưng vẫn chỉ nói lên được một phương diện. Như ta sẽ thấy
"Bildung" (tạm dịch là "đào luyện") sở dĩ khó dịch vì nó gắn liền với tư
duy về tính nhất thể và toàn thể của tinh thần, và ta không thể hiểu
được nếu không chia sẻ niềm khao khát khôn nguôi của cả trào lưu duy tâm
Đức thế kỷ 18 và 19.
"DUY TÂM ĐỨC": MỘT TƯ DUY ĐẦY MÃNH LỰC
"Thuyết
Duy tâm Đức" là trào lưu triết học chiếm đỉnh cao suốt 60 năm từ 1770 (
hay có thể từ 1781 với sự ra đời tác phẩm bất hủ "Phê phán lý tính
thuần túy" của Kant) đến 1830 (khi Hegel qua đời) và có thể nói là thời
kỳ có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử triết học tây phương. Trong
lĩnh vực văn học, toàn bộ các thời kỳ nổi tiếng như "Bão táp và Xung
kích", chủ nghĩa cổ điển" và "chủ nghĩa lãng mạn" cũng thường được xếp
chung vào "Duy tâm Đức". Nói thật ngắn gọn, "thuyết duy tâm" hay đúng
hơn "thuyết ý niệm", như tên gọi của nó từ thời cổ đại, quan tâm đến
những hình thức đời sống "cao hơn", trong đó, thế giới "đích thực" được
nắm bắt chủ yếu về mặt "ý niệm", ưu tiên cho thái độ sống "đẹp" (thẩm
mỹ), và, bên cạnh đời sống thường ngày, nỗ lực vươn lên chất lượng sống
mang tính tinh thần cao hơn.
Trong
số những khuôn mặt chủ yếu của thuyết duy tâm Đức phải kể đến Kant và
các triết gia sau Kant: Johann Gottlieb Fichte (1762-1814), người công
tác với W. Humboldt trong đề án cải cách giáo dục, Friedrich Wilhelm
Joseph Schelling (1775-1854), Georg Wilhelm Friederich Hegel (1770-1831)
và cả thi sĩ Fridrich Hölderlin (1770-1843). Tất cả họ, mỗi người theo
cách riêng của mình, đều ra sức "xử lý" di sản khổng lồ do tiền bối I.
Kant để lại: dù ngưỡng mộ hay được kích thích, gợi hứng, họ tìm cách
"hoàn thiện" hoặc "vượt qua" Kant, với cao vọng không mấy khiêm tốn và
thận trọng! Rồi bản thân mỗi người cũng tìm càch "vượt qua" người đi
trước, với vô số những giải pháp khác nhau, tạo nên quang cảnh sinh động
và náo nhiệt chưa từng có trong đời sống tư tưởng trước nay, mang lại
cho tư duy triết học nói chung và tư duy triết học giáo dục nói riêng
những ý tưởng và đường hướng được xem là sâu sắc nhất và cũng gây tranh
cãi nhiều nhất. Tinh thần Hiện đại về văn hóa quả thật đã được khai sinh
trong diễn ngôn "khai minh" và "lãng mạn" này, khi nó mạnh mẽ khẳng
định và bảo vệ sự "tự do chủ quan" của con người "hiện đại".
(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 27, 31.07.2014)